Tăng Acid Uric không chỉ mắc bệnh gút

54

Tăng acid uric máu là do rối loạn chuyển hoá purine.  Acid uric là sản phẩm chuyển hóa proteins. Axit Uric sẽ tích tụ trong máu khi quá dư thừa hoặc khi bài tiết kém qua nước tiểu.

Acid uric là sản phẩm chuyển hóa proteins. Acid Uric sẽ tích tụ trong máu khi quá dư thừa hoặc khi bài tiết kém qua nước tiểu.
Acid uric là sản phẩm chuyển hóa proteins. Acid Uric sẽ tích tụ trong máu khi quá dư thừa hoặc khi bài tiết kém qua nước tiểu.

Theo bác sĩ Hồng Ánh, việc tăng acit uric máu có thể gây tổn thương ở nhiều cơ quan. Nếu chúng kết tủa và lắng đọng ở tim mạch thì gây viêm mạch máu, viêm màng ngoài tim; ở vùng đầu gây ra viêm kết mạc, viêm mống mắt, viêm tuyến mang tai, viêm màng não. Nếu kết tủa ở vùng sinh dục, các tinh thể uric gây viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt. Ở thận, chúng gây sỏi urat…

Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là bệnh gút, do axit uric kết tủa thành sạn trong khớp, dẫn đến hiện tượng viêm khớp (sưng, nóng, đỏ, đau) tái phát nhiều lần trong suốt đời. Khi mới bị, cơn đau rất thưa, cách 6 tháng, 1-2 năm hay hơn nữa. Nhưng sau vài năm, cơn đau sẽ ngày càng gần lại, dẫn đến biến dạng khớp ở bàn tay, bàn chân… Theo một nghiên cứu tại Hà Lan trong năm qua, người ta ghi nhận những bệnh nhân gút tuổi trung niên thường dễ bị tăng huyết áp (nguy cơ 43%), tăng cholesterol trong máu (5%) và tiểu đường (hơn 50%). Vì thế, các chuyên gia về khớp có một nhìn nhận mới: gút là dấu hiệu sớm của các bệnh tim mạch!

Chứng tăng axít uric máu

Chứng tăng axit uric máu (trên 416 mmol/l) thông thường gặp ở người cao tuổi, tuy nhiên thỉnh thoảng gặp ở những lứa tuổi khá. Trước đây, người ta cho rằng, tăng axit uric máu chỉ gặp ở người mắc bệnh gút (gout), nhưng thực ra, chứng này còn có thể xuất hiện trong một số bệnh khác nhau.

Tăng axit uric máu là do rối loạn chuyển hoá purine. Bình thường axit uric được tạo ra trong quá trình chuyển hoá các axit nhân của mọi tế bào trong cơ thể và được đào thải ra ngoài chủ yếu bằng nước tiểu. Ở người bình thường, hai quá trình tạo ra và đào thải axit uric luôn luôn được cân bằng và duy trì ở mức từ 143 – 416 mmol/lít. Vì một lý do nào đó, quá trình chuyển hoá purine bị rối loạn sẽ gây tăng axit uric trong máu

NGUYÊN TẮC CỦA CHẾ ĐỘ ĂN KIÊNG

Giảm thức ăn sản sinh acid uric

Tránh ăn:

  • Nội tạng động vật: món ức cừu, bê, bầu dục (cật), gan, óc động vật, lòng lơn, tim và lưỡi động vật.
  • Thịt lợn ướp
  • Thịt sấy
  • Một số loại cá: cá mòi, cá hộp, cá trồng, cá hồi song, cá chép, cá chó, cá thu, cá ngừ,
  • Các loài thân mềm: sò huyết, ốc sên, mực, ốc
  • Các loài thân giáp: cua, tôm và tôm hùm.

Cần giảm ăn thịt

Không loại rau nào gây tăng axit uric bởi vì chất purin trong rau quả không chuyển hóa thành axit uric.

2. Tăng bài tiết nước tiểu: Bài tiết nước tiểu càng tăng thì axit uric lọc qua thận càng tốt.

Cần uống nhiều nước (2 đến 3 lít/ngày) bạn có thể tính lượng nước cần uống của cơ thể tại đây

3. Tránh ăn các loại thức ăn gây cơn Gút cấp:

Một số loại thức ăn không mang axit uric nhưng thông qua cơ chế phức tạp của cơ thể chúng ta có thể gây ra những cơn Gút cấp:

  • Rượu (chất cồn)
  • Sô cô la, nấm
  • Các loại mỡ nói chung
Chế độ ăn trong bệnh Gút (tăng axit uric)

Sử dụng thức ăn ít chứa nhân purin như ngũ cốc, các loại hạt, bơ, mỡ, đường, trứng, sữa, phomat, rau quả. Hạn chế thực phẩm thịt, cá, hải sản, gia cầm, óc, gan, bầu dục, đậu đỗ.

* Bỏ rượu, thức uống có rượu, bia, cà phê, chè.

* Không giảm cân quá nhanh cho người béo quá mức (cần giảm từ từ).

* Uống đủ nước (nhưng không dùng cà phê, chè).

Thực đơn mẫu cho bệnh nhân bị Goutte cấp tính.

– Tổng năng lượng đưa vào: 1600 kcal/ngày, cho người nặng 50 kg.

– Đạm 15% (0,8g/kg) = 40g = 160kcal

– Chất béo: 20% = 35g = 315 kcal

– Bột – đường: 65% = 300g=”1200″ kcal

– Rau quả: tự do

Thực đơn lâu dài cho bệnh Goutte

Như chế độ thông thường nhưng cần lựa chọn thức ăn; hạn chế thức ăn nhiều

purin; protein không quá 1g/kg cân nặng. Như vậy thì đạm động vật và đậu đỗ

không nên quá 100 gam/ ngày.

Hàm lượng purin trong 100g thức ăn có thể tham khảo như sau:

Nhóm I (0-15 mg)

Nhóm II (50-150mg)

Nhóm III (trên 150 mg)

– Ngũ cốc

– Bơ, mỡ

– Đường

– Trứng

– Sữa

– Phomat

– Rau, quả

– Hạt

– Thịt

– Cá

– Hải sản

– Gia cầm

– Đỗ, đậu

-óc

– Gan

– Bầu dục

– Cá sarrdin

– Nước dùng thịt

– Nấm

– Măng tây

Nhóm IV: Thức uống có khả năng gây đợt gout cấp

– Rượu, thức uống có rượu

– Bia (biacó purin)

– Cà phê, chè (có chứa methyl purin khi bị oxy hoá sẽ tạo thành methyl acid uric)

Chúng ta nên tới các cơ sở khám chữa bệnh có thiết bị tốt để kiểm soát acid uric trong máu. Các thiết bị các nhân, cầm tay để kiểm tra chỉ số acid uric chỉ cho các bạn một con số ước lượng chứ không phải một con số hoàn toàn chính xác cũng như thông báo cho bạn biết tình trạng của bệnh gút.

Comments