Những biến chứng của viêm khớp dạng thấp

Biến chứng thường gặp nhất và gây ảnh hưởng rất nhiều của bệnh viêm khớp dạng thấp là sự biến dạng khớp và mô xung quanh khớp, từ đó làm mất chức năng khớp. Do tác động của sự mất chức năng khớp và đau lên cuộc sống hàng ngày, có khoảng 70% số người bệnh viêm khớp dạng thấp cho rằng bệnh này cản trở không cho họ có cuộc sống bình thường.

bien-chung-viem-khop-dan-thap
Hình ảnh minh hoạt: timthuocnhanh.com

Sau 10 năm bị bệnh, có khoảng 10-15% số người bệnh bị tàn phế, không thể tự sinh hoạt mà phải nhờ đến sự trợ giúp của người khác.

Ngoài việc gây biến dạng khớp, bệnh viêm khớp dạng thấp còn gây ra các biến chứng trên các cơ quan khác của cơ thể:

– Bệnh thần kinh ngoại biên thường xảy ra ở bàn chân và bàn tay với dấu hiệu ngứa ran, tê hoặc bỏng rát, phân bố theo lĩnh vực của dây thân kinh bị ảnh hưởng.

– Yếu cơ.

– Thiếu máu do giảm số lượng hồng cầu.

– Viêm củng mạc mắt: Quá trình viêm tác động lên hệ thống mạch máu trong mắt, làm thương tổn củng mạc mắt, làm cho mắt bị đỏ và cảm giác sạn trong mắt.

– Nhiễm trùng: Người bệnh viêm khớp dạng thấp rất dễ bị nhiễm trùng, đặc biệt là khi điều trị bằng các thuốc kháng viêm.

– Bệnh da: Các vấn đề về da rất thường gặp ở người bệnh viêm khớp dạng thấp, chúng hay thể hiện ở ngón tay và vùng dưới móng. Các thương tổn có thể là mảng hồng ban, loét da, phồng rộp da, khối cứng dưới da hoặc các thương tổn khác.

Loãng xương: Những phụ nữ sau mãn kinh có kèm viêm khớp dạng thấp có tỉ lệ loãng xương cao hơn so với những phụ nữ mãn kinh mà không bị bệnh viêm khớp dạng thấp. Ở đàn ông trên 60 tuổi mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cũng có tỉ lệ bị loãng xương cao hơn so với những người cùng lứa tuổi không bị bệnh viêm khớp dạng thấp.

Bệnh phổi: Những người bệnh viêm khớp dạng thấp rất dễ bị mắc phải các bệnh phổi mạn tính như xơ mô kẽ phổi, tăng áp phổi… Bệnh viêm khớp dạng thấp và quá trình điều trị bệnh này đều có thể gây ra các thương tổn nói trên.

Thận: Bản thân bệnh viêm khớp dạng thấp ít khi ảnh hưởng lên thận nhưng các thuốc điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp lại có thể gây ra các thương tổn cho thận.

– Viêm mạch máu là hiện tượng viêm tự miễn bất thường trên rất nhiều các mạch máu nhỏ, tác động đến nhiều cơ quan khác nhau. Biểu hiện của viêm mạch máu gồm có lở miệng, bệnh dây thần kinh, sự suy giảm chức năng đột ngột của phổi, viêm động mạch vành tim và viêm các động mạch nuôi ruột non.

Bệnh tim: Những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành cao hơn so với những người không bị viêm khớp dạng thấp. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh được hiện tượng viêm mạn tính kết hợp với viêm khớp dạng thấp là yếu tố gây ra sự tăng nguy cơ nói trên.

U lympho và các loại ung thư khác: U lympho là một loại bệnh ung thư có nguồn gốc huyết học. Người bệnh viêm khớp dạng thấp có nguy cơ bị u lympho không Hodgkin cao hơn so với người bình thường.

Quá trình viêm kéo dài của bệnh viêm khớp dạng thấp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển lymphoma. Ngoài ra cũng cần lưu ý rằng quá trình điều trị viêm khớp dạng thấp cũng có thể là yếu tố gây ra u lympho.

Các bệnh cơ hội: Tỉ lệ người bệnh viêm khớp dạng thấp bị mắc các chứng bệnh cơ hội cao gấp 2 lần so với những người không bị viêm khớp dạng thấp. Quá trình viêm mạn tính và sự sai lệch về miễn dịch là nguyên nhân chủ yếu gây nên cả bệnh viêm khớp dạng thấp lẫn các bệnh cơ hội.

Bệnh viêm khớp dạng thấp và thai kì

Ở những sản phụ bị viêm khớp dạng thấp, nguy cơ sinh non tăng cao hơn bình thường. Ngoài ra, những sản phụ này cũng dễ bị tăng huyết áp vào giai đoạn 3 tháng cuối của thai kì so với các sản phụ khác. Ở nhiều phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp, khi có thai, bệnh viêm khớp dạng thấp có vẻ giảm đi nhưng sau khi sinh bệnh lại tái phát và gia tăng.

Viêm khớp trẻ em

Bệnh viêm khớp trẻ em thường bắt đầu trước khi trưởng thành. Những trẻ em bị viêm ở vài khớp sẽ có tiên lượng tốt hơn so với những em bị viêm ở nhiều khớp hơn hoặc biểu hiện ở nhiều cơ quan khác nhau.

Tình trạng viêm nhiều khớp hoặc viêm nhiều cơ quan khác nhau đôi khi rất phức tạp, một số ít có thể tử vong. Hội chứng ‘kích hoạt thực bào’ (Macrophage Activation Syndrome – MAS) là một biến chứng nặng của bệnh viêm khớp trẻ em, đe dọa đến tính mạng trẻ bị mắc bệnh.Khi có biểu hiện của hội chứng này (sốt liên tục kéo dài, yếu cơ, trì trệ tinh thần hoặc ngủ lịm), trẻ bị bệnh cần được điều trị ngay với các thuốc kháng viêm liều cao.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, viêm khớp dạng thấp là một bệnh viêm không đặc hiệu xảy ra ở các khớp gây tổn thương màng hoạt dịch, sụn khớp và đầu xương dưới sụn, diễn biến mạn tính dẫn đến tình trạng dính và biến dạng khớp. Viêm khớp dạng thấp có biểu hiện viêm khớp và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong máu.

Đây là một trong các bệnh khớp viêm mạn tính thường gặp nhất ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, chiếm khoảng 0,5-2 % dân số. Viêm khớp dạng thấp là bệnh tự miễn khá điển hình ở người, dưới dạng viêm mãn tính ở nhiều khớp ngoại biên với biểu hiện khá đặc trưng: sưng, đau khớp, cứng khớp buổi sáng và đối xứng hai bên. Ngoài ra, còn có các biểu hiện toàn thân (mệt mỏi, xanh xao, sốt gầy sút…) và tổn thương các cơ quan khác trên cơ thể.

 

Chữa Viêm khớp dạng thấp vật lý trị liệu

Phục hồi chức năng vận động trong đợt cấp của bệnh viêm khớp dạng thấp bằng vật lý trị liệu.

Phục hồi chức năng vận động trong đợt cấp của bệnh viêm khớp dạng thấp bằng vật lý trị liệu.
Phục hồi chức năng vận động trong đợt cấp của bệnh viêm khớp dạng thấp bằng vật lý trị liệu.

Viêm khớp dạng thấp là gì:  Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh khớp mạn tính, trong đó số lượng khớp bị viêm có thể lên đến vài chục khớp. Do vậy bệnh nhân bị hạn chế vận động nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt hằng ngày và khả năng lao động nghề nghiệp. Hiện nay, các biện pháp điều trị tích cực giúp cải thiện rõ rệt tình trạng bệnh. Tuy nhiên, các biện pháp phục hồi chức năng vận động của bệnh nhân là không thể thiếu được, có vai trò quan trọng trong bất kỳ giai đoạn và mức độ tiến triển nào của bệnh.

Trong đợt tiến triển, cần để các khớp được nghỉ ngơi, vì gắng sức có thể làm tăng biến dạng khớp. Do vậy cần phải thận trọng chờ đợi thuốc tác dụng trước đã. Khớp bị tổn thương cần ít vận động ban ngày và nghỉ ngơi, đặt ở tư thể đúng ban đêm. Cần phải duy trì tư thế khớp đúng đắn vài phút nhiều lần trong ngày. Bình thường bệnh nhân hay đặt gối kê dưới kheo chân để làm giảm đau khi bị sưng đau khớp gối, tuy nhiên điều đó dễ làm cứng khớp ở tư thế gấp. Sự biến dạng này sẽ làm ảnh hưởng đến đi lại, thậm chí khi đợt viêm chấm dứt. Bàn tay và cổ tay cũng cần cố định ở tư thế đúng khi các khớp bị viêm. Cần phải mang tối thiểu nẹp nghỉ ngơi vào ban đêm. Dụng cụ này cho phép giữ cổ tay và ngón tay ở tư thế chức năng, và làm giảm sự co rút của gân cơ. Tác dụng chống viêm và giảm đau của nó rất nhanh. Chú ý cho khớp nghỉ ngơi không có nghĩa là cứ nằm suốt ngày trên giường hay ngồi trên ghế bành cả ngày. Cần cố gắng hoạt động ngay khi cảm thấy mỏi mệt để tránh các hậu quả của cố định lâu dài.

Sử dụng nẹp

Nẹp chính là các dụng cụ để cố định hay duy trì ổn định các khớp, với mục tiêu là giảm viêm khớp, sửa chữa các biến dạng và thúc đẩy hoạt động. Các nẹp tay là một ví dụ.

Có hai loại nẹp: Nẹp có tác dụng cải thiện thực hiện các động tác (nẹp chức năng) và nẹp nâng cao chất lượng nghỉ ngơi của khớp (nẹp nghỉ ngơi). Nẹp chức năng được sử dụng trong lúc hoạt động để thúc đẩy thực hiện các động tác hay bảo vệ một hay nhiều khớp. Nẹp nghỉ ngơi được đeo trong các giờ nghỉ ban ngày và ban đêm. Các loại nẹp cần do bác sĩ kê đơn.

Sử dụng nẹp chức năng: Ban ngày, có thể mang nẹp cổ tay hay ngón tay để thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày. Có thể mang nẹp khi lao động chân tay trong hai tình huống sau: sau mỗi lần làm việc thì bệnh nhân cảm thấy đau cổ tay, có cảm giác mất sức và do vậy ngại làm các hoạt động hằng ngày. Duy trì cổ tay bằng nẹp cổ tay tăng lực có thể thay đổi cuộc sống của bệnh nhân. Bệnh nhân thậm chí có thể làm vườn. Bệnh nhân cần phải mang nẹp khi thực hiện những hoạt động khó khăn. Tình huống khác là phải mang nẹp trong ngày, ví dụ nẹp ngón tay do ngón tay bắt đầu bị biến dạng, gây khó lao động. Nẹp có tác dụng hạn chế các động tác khớp có hại. Nẹp toàn bộ khi nghỉ ngơi bàn tay và khi nào cần mang.

Sử dụng nẹp nghỉ ngơi: Nẹp toàn bộ cố định cả cổ tay và bàn tay, trải dài từ cẳng tay đến tận ngón tay. Đó là nẹp nghỉ ngơi vì được chế tạo để cố định khớp trong giờ nghỉ ban ngày hay ban đêm. Nẹp cố định khớp ở một vị trí nhất định, để nới lỏng sự căng cứng khớp gây đau đớn, giảm co cứng cơ và tránh sự co rút làm tăng nguy cơ cứng ngón tay ở vị trí xấu. Nẹp này được chuyên gia vật lý trị liệu và nhà sản xuất tạo nên, cần phải được chỉnh sửa tối thiểu một lần trong một năm. Buổi sáng khi tháo nẹp ra, để tránh cứng khớp cần phải ngâm tay vào nước ấm và cử động các ngón tay.

Tập thể dục, thể thao

Nếu đau xuất hiện mỗi khi vận động thì không nên nản chí. Người bệnh chỉ cần mang dụng cụ giúp đỡ và thay đổi một số động tác là có thể tiếp tục hoạt động được. Có thể tập tĩnh, tức là chỉ cần tập luyện cơ lực có đối kháng thay vì vận động, hay tập luyện những bài tập thể dục ngắn tại nhà. Các bài tập thể dục cho bàn tay giúp duy trì sự mềm dẻo khớp cổ tay và ngón tay. Các bài tập cho chân giúp cho đứng vững và đi lại tốt hơn. Bệnh nhân cần duy trì hoạt động thể lực đầy đủ và tiếp tục các sinh hoạt hằng ngày, nhưng cần tránh các hoạt động không cần thiết. Người bệnh cần có hoạt động thể chất thường xuyên như đi bộ, đi xe đạp, bơi lội theo khả năng của mình. Nếu tập được thể thao thì vẫn nên tiếp tục. Tuyệt đối không được tác động cột sống khi đau cổ, vì các tổn thương cột sống có thể nặng lên sau khi làm thủ thuật này, và có các biến chứng là tai biến mạch máu não, di chứng thần kinh không phục hồi được.

chế độ ăn uống cho bệnh viêm khớp dạng thấp

Khi mắc phải bệnh viêm khớp,  thì việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng là một yêu cầu hàng đầu.Chế độ ăn nhiều rau xanh tốt cho người viêm khớp dạng thấp, chế độ ăn uống hợp lý là điều cần thiết giúp giảm hoặc tránh được những cơn đau do căn bệnh này gây ra. Hãy tham khảo những thực phẩm cần thiết cho việc chữa trị căn bệnh này:

che do an uong cho benh viem khop dang thap
Trong chế độ dinh dưỡng, người bị thấp khớp cần chú ý tới những loại thực phẩm giàu vitamin C, D, E, một số loại acid béo có tác dụng tốt với khớp.

Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh viêm khớp

1. Rau xanh và trái cây

Trong rau xanh và trái cây có chứa các chất dinh dưỡng được gọi là những chất hóa học từ thực vật và các chất chống oxy hóa giúp ngăn ngừa, thậm chí có thể đẩy lùi quá trình viêm nhiễm. Người bệnh cần ăn nhiều rau quả mỗi ngày.
Rau quả, trái cây càng nhiều màu sắc thì chất dinh dưỡng và khả năng phòng chống bệnh càng cao. Các loại rau, trái cây có màu đỏ, tím, xanh, vàng, cam như quả việt quất, mâm xôi, dâu tây, bông cải xanh, cải bó xôi, cải xoăn, cà rốt và khoai lang luôn là những lựa chọn tốt.

2. Cá nước lạnh

Các loại cá nước lạnh cung cấp nguồn axít béo thiết yếu omega 3 như DHA (docosohexanoic acid) và EPA (eicosapentanoic acid). Loại chất béo này có khả năng chống viêm rất hiệu quả. Một số loại cá nước ngọt như cá hồi Atlantic, cá trích, cá sardin, cá ngừ da sáng… cũng có nhiều các axít béo omega 3. Bạn cũng có thể sử dụng dầu cá để thay thế.

3. Gừng

Gừng có khả năng chống viêm nhiễm rất hiệu nghiệm. Do vậy, chúng được cho thêm vào món ăn như một loại gia vị trong quá trình chế biến hoặc làm tăng hương vị của các loại trà nóng.

4. Đậu và hạt

Các loại đậu và hạt như hạnh nhân, óc chó, mè… có chứa loại axít béo có khả năng chống viêm. Việc rắc thêm các loại đậu, hạt này vào món salad hay nhâm nhi chúng cũng đều mang lại lợi ích cho người bệnh.
Bạn cũng đừng quên uống thật nhiều nước. Thông thường, quá trình đào thải nước ra khỏi cơ thể cũng có tác dụng làm dịu sự viêm nhiễm. Hãy nhớ uống đủ từ 6 – 8 ly nước mỗi ngày.

5. Nghệ

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nghệ có thể giúp chữa bệnh viêm khớp bằng cách kiềm chế các chất hóa học gây viêm nhiễm trong cơ thể.

Những thực phẩm cần tránh khi bị viêm khớp

Một số thói quen có hại trong ăn uống và lối sống cũng là nguyên nhân kích thích sự viêm nhiễm trở nên nặng nề hơn. Cần tránh:
  • Phô mai giàu chất béo
  • Các loại thịt đỏ: thịt bò, hamburger, hotdog, thịt heo muối xông khói
  • Các axít béo bão hòa có nhiều trong các loại thực phẩm được chế biến, đóng gói sẵn.
  • Bột mì trắng và những thực phẩm chứa nhiều đường như các loại bánh, bột ngũ cốc có đường, sôđa
  •  Thức ăn chiên nhiều dầu mỡ
  •  Những đồ uống có chất cồn
  • Căng thẳng
  • Thuốc lá, rượu bia qua nhiều.
– Acid béo hệ Omega-3: Acid này có nhiều trong các loại cá giàu chất béo, có khả năng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh.
– Những loại cá giàu acid béo hệ Omega-3 gồm: Cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ, cá trống. Bên cạnh đó, dầu cá có thể loại bỏ tình trạng cứng khớp buổi sáng và làm giảm số lần đau khớp ở những bệnh nhân viêm khớp mạn tính.
– Vitamin C và D có khả năng cải thiện bệnh viêm xương-khớp. Vitamin E như đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương có tác dụng giảm đau chống viêm.
– Với những người bị viêm khớp, nên ăn nhiêu bắp cải. Loại rau này giống như một chất bôi trơn, làm linh hoạt chuyển động các khớp.
– Một thực phẩm khác là cà chua tốt cho người bị thấp khớp nhờ hàm lượng lycopen và chất carotenoit chống ôxy hoá. Một cốc nước ép cà chua chín mỗi ngày thực sự rất cần thiết cho việc bảo vệ sụn!Ngoài ra, một vài nhánh tỏi ăn sống hoặc chế biến cùng thức ăn cũng rất tốt cho khớp.
Và nếu bạn thích ăn các loại rau thơm như như hành, húng, mùi tây, cà rốt, rau diếp thì đó đều là những thực phẩm được khuyên dùng cho người bệnh thấp khớp
Nguồn: naturallifeenergy.com

Điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp

Điều trị Viêm khớp dạng thấp dựa vào 2 nguyên tác mà bộ y tế đã ban hành kèm theo Quyết định số 361/QĐ-BYT Ngày 25 tháng 01 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế

dieu tri viem khop dang thap

a) Nguyên tắc:

Điều trị toàn diện, tích cực, dài hạn và theo dõi thường  xuyên. Các thuốc điều trị cơ bản hay còn gọi là nhóm thuốc DMARDs (Disease- modifying antirheumatic drugs) kinh điển (methotrexate, sulfasalazine, hydroxychloroquine…) có vai trò quan trọng trong việc ổn định bệnh và cần điều trị kéo dài. Các thuốc sinh học còn được gọi là DMARDs sinh học (kháng TNF , kháng Interleukin 6, kháng lympho B) được chỉ định đối với thể kháng điều trị với DMARDs kinh điển, thể nặng hoặc tiên lƣợng nặng. Khi chỉ định các thuốc sinh học, cần có ý kiến của các bác sỹ chuyên khoa Cơ Xương Khớp và thực hiện đúng quy trình (làm các xét nghiệm tầm soát lao, viêm gan (virus B, C), chức năng gan thận, đánh giá hoạt tính bệnh bằng chỉ số DAS 28…)

b) Điều trị cụ thể

–  Điều trị triệu chứng: nhằm cải thiện triệu chứng viêm, giảm đau, duy trì khả năng vận động (tuy nhiên các thuốc này không làm thay đổi được sự tiến triển của bệnh).

+ Các thuốc kháng viêm không steroid (KVKS- NSAIDs).

Các thuốc kháng viêm ức chế chọn lọc COX2 (được chọn lựa đầu tiên vì

thường phải sử dụng dài ngày và ít có tƣơng tác bất lợi với methotrexat) Celecoxib: 200mg, uống 1 đến 2 lần mỗi ngày.

Hoặc Meloxicam: 15 mg tiêm (chích) bắp hoặc uống ngày một lần. Hoặc Etoricoxib: 60 – 90 mg, ngày uống một lần.

Các thuốc thuốc kháng viêm ức chế không chọn lọc

Diclofenac : uống hoặc tiêm bắp: 75mg x 2 lần/ngày trong 3 – 7 ngày.

Sau đó uống: 50 mg x 2 – 3 lần/ ngày trong 4 – 6 tuần.

Brexin (piroxicam + cyclodextrin) 20mg uống hàng ngày

Hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác (liều tƣơng đƣơng).

Lưu ý: khi dùng cho các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ có các tác dụng không mong muốn của thuốc KVKS (NSAIDs) (bệnh nhân già yếu, tiền sử (tiền căn) bị bệnh lý dạ dày…) hoặc điều trị dài ngày, cần theo dõi chức năng thận và bảo vệ dạ dày bằng các thuốc ức chế bơm proton.

+  Corticosteroids (Prednisolone, Prednisone, Methylprednisolone)

Thường sử dụng ngắn hạn trong lúc chờ đợi các thuốc điều trị cơ bản có hiệu lực. Chỉ định khi có đợt tiến triển (tiêu chuẩn đợt tiến triển xem ở phần Phụ lục)

Thể vừa: 16-32 mg methylprednisolon (hoặc tƣơng đƣơng), uống hàng ngày vào 8 giờ sáng, sau ăn.

Thể nặng: 40 mg methylprednison TM mỗi ngày.

Thể tiến triển cấp, nặng, đe doạ tính mạng (viêm mạch máu, biểu hiện ngoài khớp nặng): bắt đầu từ 500-1.000mg methylprednisolone truyền TM trong 30-45 phút/ngày, điều trị 3 ngày liên tục. Sau đó chuyển về liều thông thường. Liệu trình này có thể lặp lại mỗi tháng nếu cần.

Sử dụng dài hạn (thường ở những bệnh nhân nặng, phụ thuộc corticoid hoặc có suy thƣợng  thận do dùng corticoid kéo dài): bắt đầu ở liều uống: 20mg hàng ngày, vào 8 giờ sáng. Khi đạt đáp ứng lâm sàng và xét nghiệm, giảm dần liều, duy trì liều thấp nhất (5 – 8mg hàng ngày hoặc cách ngày) hoặc ngƣng (nếu có thể) khi điều trị cơ bản có hiệu lực (sau 6-8 tuần).

–  Điều trị cơ bản bằng các thuốc chống thấp làm thay đổi tiến triển của bệnh (Disease Modifying Anti Rheumatic Drug-DMARDs) để làm chậm hoặc làm ngừng tiến triển của bệnh, cần điều trị lâu dài và theo dõi các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng trong suốt thời gian điều trị).

+ Thể mới mắc và thể thông thường: sử dụng các thuốc DMARDs kinh điển methotrexat khởi đầu 10 mg một lần mỗi tuần. Tùy theo đáp ứng mà duy trì liều cao hoặc thấp hơn (7,5 – 15 mg) mỗi tuần (liều tối đa là 20 mg/tuần) Hoặc Sulfasalazin  khởi đầu 500 mg/ngày, tăng mỗi 500 mg mỗi tuần, duy trì ở liều 1.000 mg x 2 lần mỗi  ngày

Kết hợp: methotrexat với sulfasalazin hoặc hydroxychloroquine nếu

đơn trị liệu không hiệu quả Kết hợp: methotrexat, sulfasalazin và hydroxychloroquine nếu kết hợp trên không hiệu quả

+ Thể nặng, kháng trị với các DMARDs kinh điển (không có đáp ứng sau 6 tháng) cần kết hợp với các thuốc sinh học (các DMARDs sinh học)

Trước khi chỉ định các thuốc sinh học, cần làm các xét nghiệm để sàng lọc lao, viêm gan, các xét nghiệm chức năng gan thận và đánh giá mức độ hoạt động bệnh (máu lắng hoặc CRP, DAS 28, HAQ) Kết hợp methotrexate và thuốc kháng Interleukin 6 (tocilizumab) methotrexat 10 – 15 mg mỗi tuần + tocilizumab  4 – 8mg/kg cân nặng, tương đương 200 – 400mg  truyền TM mỗi tháng một lần.  Hoặc kết hợp methotrexate và một trong 3 loại thuốc kháng TNF  sau:

  • Methotrexat 10-15 mg mỗi tuần
  • Etanercept 50mg tiêm dưới da mỗi tuần một lần.
  • Methotrexat 10-15mg mỗi tuần
  • Infliximab TTM 2-3mg/kg mỗi 4 – 8 tuần.
  • Methotrexat 10-15mg mỗi tuần
  • Adalimumab 40mg tiêm dưới da 2 tuần một lần Hoặc kết hợp methotrexate và thuốc kháng lympho B (rituximab) methotrexat 10 – 15 mg mỗi tuần
  • Rituximab truyền TM 500 – 1000mg x 2 lần, cách 2 tuần, có thể nhắc lại một hoặc hai liệu trình mỗi năm.

Sau 3 – 6 tháng điều trị, nếu thuốc sinh học thứ nhất không hiệu quả, có thể xem xét thuốc sinh học thứ 2, tƣơng tự như vậy, có thể xem xét thuốc sinh học thứ 3 khi sau 3 – 6 tháng, thuốc sinh học thứ 2 không hiêu quả

Các điều trị phối hợp khác

–   Các biện pháp hỗ trợ

+ Tập luyện, hướngdẫn vận động chống co rút gân, dính khớp, teo cơ.

Trong đợt viêm cấp: để khớp nghỉ ở tƣ thế cơ năng, tránh kê, độn tại khớp. Khuyến khích tập ngay khi triệu chứng viêm thuyên giảm, tăng dần, tập nhiều lần trong ngày, cả chủ động và thụ động theo đúng chức năng sinh lý của khớp.

+ Phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, tắm suối khoáng, phẫu thuật chỉnh hình (cắt xương sửa trục, thay khớp nhân tạo khi có chỉ định).

–   Phòng ngừa và điều trị các biến chứng của điều trị, các bệnh kèm theo

+ Viêm, loét dạ dày tá tràng: cần chủ động phát hiện và điều trị vì trên 80% bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng.

+ Phòng ngừa (khi có các yếu tố nguy cơ) và điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton, kèm thuốc điều trị Helicobacter Pylori (nếu có nhiễm HP).

+ Khi sử dụng cortisteroid bất cứ liều nào trên 01 tháng, cần bổ xung calcium, vitamin D để phòng ngừa loãng xương. Nếu bệnh nhân có nguy cơ loãng xương cao có thể sử dụng bisphosphonates. Khi đã có loãng xương, tùy theo mức độ loãng xương, tuổi, giới và điều kiện cụ thể của ngƣời bệnh mà lựa chọn các thuốc phù hợp (thường là bisphosphonate)

+ Thiếu máu: acid folic, sắt, vitamin B12…

Theo tài liệu

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

CÁC BỆNH VỀ CƠ XƯƠNG KHỚP

(Ban hành kèm theo Quyết định số 361/QĐ-BYT Ngày 25 tháng 01 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

Tiêu chuẩn chuấn đoán Viêm khớp dạng thấp

Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR )1987

dasd 28

– Hiện nay tiêu chuẩn này vẫn đang đƣợc áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới và Việt nam đối với thể biểu hiện nhiều khớp và thời gian diễn biến viêm khớp trên 6 tuần

+ Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ

+ Viêm tối thiểu 3 nhóm khớp: sưng phần mềm hay tràn dịch tối thiểu

3 trong số 14 nhóm khớp sau (kể cả hai bên): khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân.

+ Viêm các khớp ở bàn tay: sáng tối thiểu một nhóm trong số các khớp cổ tay, khớp ngón gần, khớp bàn ngón tay.

+ Viêm khớp đối xứng

+ Hạt dưới da

+ Yếu tố dạng thấp trong huyết thanh dương tính

+ Dấu hiệu X quang điển hình của VKDT: chụp khớp tại bàn tay, cổ tay hoặc khớp tổn thương: hình bào mòn, hình hốc, hình khuyết đầu xương, hẹp khe khớp, mất chất khoáng đầu xương.

Chẩn đoán xác định: khi có  4 tiêu chuẩn. Triệu chứng viêm khớp (tiêu chuẩn 1- 4) cần có thời gian diễn biến   6 tuần và được xác định bởi thày thuốc.

Tiêu chuẩn ACR 1987 có độ nhạy 91-94% và độ đặc hiệu 89% ở những bệnh nhân VKDT đã tiến triển. Ở giai đoạn bệnh mới khởi phát, độ nhạy chỉ dao động từ 40-90% và độ đặc hiệu từ 50-90%.

–  Lưu ý: Hạt dưới da hiếm gặp ở Việt Nam. Ngoài ra, cần khảo sát các triệu chứng ngoài khớp như: teo cơ, viêm mống mắt, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, viêm mạch máu… thường ít gặp, nhẹ, dễ bị bỏ sót.

  1. b) Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống Thấp khớp Châu Âu 2010 (ACR/EULAR 2010 – American College of Rheumatology/ European League Against Rhumatism). Tiêu chuẩn này có thể áp dụng trong trường hợp bệnh ở giai đoạn sớm, các khớp viêm dƣới 06 tuần và thể ít khớp. Tuy nhiên cần luôn theo dõi đánh giá lại chẩn đoán vì nhiều trường hợp đây cũng có thể là biểu hiện sớm của một bệnh lý khớp khác không phải viêm khớp dạng thấp

Đi tƣợng là các bệnh nhân

–   Có ít nhất 1 khớp được xác định viêm màng hoạt dịch trên lâm sàng

–   Viêm màng hoạt dịch khớp không do các bệnh lý khác

Biểu hiện
Điểm/vc_column]

Biểu hiện                                                                 Điểm

  1. A. Biểu hiện tại khớp

1 khớp lớn                                                                                0

2−10 khớp lớn                                                                               1

1−3 khớp nhỏ (có hoặc không có biểu hiện tại các khớp lớn)      2

4−10 khớp nhỏ (có hoặc không có biểu hiện tại các khớp lớn)    3

>10 khớp (ít nhất phải có 1 khớp nhỏ)                                         5

  1. Huyết thanh (ít nhất phải làm một xét nghiệm)

RF âm tính và Anti CCP âm tính                                                   0

RF dương tính thấp* hoặc Anti CCP dương tính thấp*             2

RF dươngtính cao* hoặc Anti CCP dương tính cao*                 3

  1. C. Các yếu tố phản ứng pha cấp (cần ít nhất một xét nghiệm)

CRP bình thường và Tốc độ lắng máu nh thường                      0

CRP tăng  hoặc Tốc độ lắng máu tăng                                          1

D. Thời gian biểu hiện các triệu chứng  
<6 tuần 0
≥6 tuần 1
Chẩn đoán xác định: khi số điểm ≥6/10  
Dương tính thấp khi ≤ 3 lần giới hạn cao của bình thường  
Dương tính cao khi > 3 lần giới hạn cao của bình thường  
  1. c) Xét nghiệm cận lâm sàng cần chỉ định:

– Các xét nghiệm cơ bản: tế bào máu ngoại vi, tốc độ máu lắng, protein phản ứng C (CRP)…, xét nghiệm chức năng gan, thận, Xquang tim phổi, điện tâm đồ…

– Các xét nghiệm đặc hiệu (có giá trị chẩn đoán, tiên lượng):

+ Yếu tố dạng thấp (RF) dƣơng tính trong 60 – 70 % bệnh nhân.

+ Anti CCP dương tính trong 75 – 80 % bệnh nhân

+ Xquang khớp (thường chụp hai bàn tay thẳng hoặc các khớp bị tổn

thƣơng).

  1. d) Chẩn đoán phân biệt : lupus ban đỏ hệ thống, thoái hoá khớp, gút mạn tính, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vảy nến…

Bệnh viêm khớp dạng thấp là gì ?

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý tự miễn điển hình, diễn biến mạn tính với các biểu hiện tại khớp, ngoài khớp và toàn thân ở nhiều mức độ khác nhau.

viêm khớp dạng thấp
viêm khớp dạng thấp

 

Bệnh diễn biến phức tạp, gây hậu quả nặng nề do đó cần được điều trị tích cực ngay từ đầu bằng các biện pháp điều trị hữu hiệu để làm ngừng hay làm chậm tiến triển của bệnh, hạn chế tàn phế và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh viêm khớp mãn tính, biểu hiện của bệnh là sưng nóng đỏ ở các khớp đặc biệt là các khớp nhỏ như khớp bàn tay, ngón tay, bàn chân. Khi bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhan không những bị giới hạn cử động  hàng ngày mà còn có thể bị tổn thương các cơ quan khác như các bệnh về tim, phổi…Vậy viêm khớp dạng thấp là gì? Tại sao nó lại có sức tàn phá đến thế?

Cứng khớp buổi sáng là triệu chứng thường gặp trong Viêm khớp dạng thấp, có thể kéo dài trên 1 giờ. Một số bệnh lý khác cũng có thể gây cứng khớp buổi sáng như thoái hóa khớp, nhưng thường không kéo dài như Viêm khớp dạng thấp, mà chỉ khoảng dưới 30 phút.