Nguyên nhân gây viêm loét dạ dày

Viêm loét đường liêu hóa bao gồm viêm loét dạ dày và viêm loét bộ phận tá tràng. Viêm loét dạ dày là căn bệnh thường gặp. Viêm loét dạ đày bao gồm hai loại, là viêm dạ dày cấp tính và viêm dạ dày mạn tính.

Viêm dạ dày mạn tính có nguồn gốc từ bên ngoài là chỉ những nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính đến từ bên ngoài cơ thể như bị nhiễm khuẩn (khuẩn hình que), ngộ độc rượu mạn tính, hút thuốc lá lâu ngày…
Hình ảnh viêm loét dạ dày

Viêm dạ dày cấp tính lại phân ra thành các loại viêm cấp tính thường gặp (như viêm nhiễm cấp tính với độc tố của vi khuẩn, viêm nhiễm nghiêm trọng do thuốc Aspirin và do vết ttyương nhiễm trùng gây nén) và một số loại viêm cấp tính ít gặp (như viêm dạ dày có tính ăn mòn do một số thức ăn có nồng độ acid và tính kiềm mạnh… gây nên).

Có nhiều phương pháp phân loại viêm dạ dày mạn tính nhưng phương pháp hay dùng nhất là căn cứ vào sự biến đổi của niêm mạc dạ dày mà phân ra thành viêm dạ dày mạn tính mức độ nhẹ, viêm dạ dày mạn tính mức độ suy thoái và viêm dạ dày mạn tính mức độ nặng.

Các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa còn chọn dùng một hệ thống phân loại viêm dạ dày dựa vào nguyên nhân gây bệnh. Phương pháp này tương đối khách quan, toàn diện nhưng hơi phức tạp. Phương pháp phân loại này có thể phân viêm dạ dày mạn tính thành hai loại: viêm dạ dày mạn tính có nguồn gốc từ bên trong cơ thể và viêm dạ dày mạn tính có nguồn gốc từ bên ngoài cơ thể.

Viêm dạ dày mạn tính có nguồn gốc từ bên ngoài là chỉ những nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính đến từ bên ngoài cơ thể như bị nhiễm khuẩn (khuẩn hình que), ngộ độc rượu mạn tính, hút thuốc lá lâu ngày…

Viêm dạ dày mạn tính có nguồn gốc từ bên trong là chi những nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính do các bộ phận bên trong cơ thể người, như các bộ phận khác của cơ thể bị viêm nhiễm mạn tính lâu ngày, bệnh về chức năng tự miễn dịch của cơ thể (như phát ban, nổi mụn nhọt, viêm khớp,…).

1. Giải phẫu dạ dày và tá tràng

Khi nói đến cách chữa trị một căn bệnh nào đó, khòng thể không nắm vững một số kiến thức giải phẫu học về bênh của các hộ thống hoặc các cơ quan.

+ Hình thái tổng quát của dạ đà và tá tràng: Viêm loét đường tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính chủ yếu đề cập tới bộ phận dạ dày và tá tràng. Dạ dày chia làm ba phần: vùng đáy, vùng thân và vùng hang. Chỗ nối giữa thực quản và dạ dày gọi là tâm vị, chỗ nối giữa dạ dày và tá tràng là môn vị.

giai phau da day ta trang+ Kết cấu của thành dạ dày: Thành dạ dày được phân thành tầng niêm mạc, tầng dưới niêm mạc, tẩng cơ và tầng tương mạc. Viêm loét dạ dàv chú yếu xảy ra ớ tầng niêm mạc và tầng dưới niêm mạc. Nếu chỗ loét không được chữa trị hiệu quả, nó có thể tiếp tục phát triển tới tầng cơ, cho đến khi lan ra toàn bộ thành dạ dày, dẫn đến thủng dạ dạy.

2. Nguyên nhân gây loét đường tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính

Dạ dày mỗi ngày phải chứa một lượng lớn thức ăn, đồng thời thống qua quá trình nghiền nát để thức ăn được chia nhỏ. Ngoài ra, niêm mạc dạ dày còn phải hấp thụ một lượng không ít chất hóa học. như một ít thuốc trừ sâu còn sót lại, các sắc tố gày bệnh của các loại thuốc khi uống.

5 Nguyên nhân chính gây nên căn bệnh dạ dày
5 Nguyên nhân chính gây nên căn bệnh dạ dày

Vì vậy do nghiền nát thức ăn mà niêm mạc dạ dày càng dề bị tổn thương và cũng do hấp thụ các chất hóa học mà dẫn đến bị tổn hại. Bình thường, niêm mạc dạ dày có khả năng tự hồi phục. Niêm mạc dạ dày của người hầu như có thể phục hồi lại chỉ trong hai ngày. Vì thế, cho dù niêm mạc dạ dày bị tổn hại, cũng có thể hồi phục lại như bình thường. Nhân tố phát sinh viêm loét hoặc chứng viêm liên quan với việc tổn hại niêm mạc dạ dày có thể phân thành hai bộ phận lớn là nhân tố phòng ngự và nhân tố tấn công.

* Nhân tố phòng ngự của niêm mạc dạ dày

Tác dụng của vách ngăn bao gồm vách ngăn dịch niêm mạc và vách ngăn niêm mạc. Chức năng tự phục hồi lại bao gồm cả hỗn hợp máu và dịch, với khả năng của từng loại hormon liên quan đến sự sinh trưởng của tế bào niêm mạc, sự chuyển động của dạ dày…

+ Vách ngăn dịch niêm mạc bình thường: Dịch niêm mạc dạ dày do rất nhiều tuyến tiết ra: các tuyến vùng tâm vị và môn vị bài tiết chất nhầy. Các tuyến vùng thân và đáy dạ dày thì tế bào chính bài tiết pepsinogen, tế bào viền bài tiết HC1 và yếu tố nội, tế bào cổ tuyến bài tiết chất nhầy. Những tế bào biểu mô biến đổi của niêm mạc vùng hang bài tiết hormon gartrin.

Dịch niêm mạc tá tràng là do một loại gọi là tế bào của tuyến tá tràng có trong niêm mạc tá tràng tiết ra, dịch niêm mạc đó có tính kiềm. Dịch niêm mạc này chủ yếu ngăn chặn acid trong dạ dày trực tiếp tiếp xúc phá hoại tế bào,niêm mạc, trung hòa acid trong dạ dày và phòng ngừa những thức ăn từ bên ngoài được đưa vào dạ dày có thể ăn mòn niêm mạc.

+ Vách ngăn niêm mạc bình thường: Do tế bào niêm mạc phía trên tạo thành. Nó có thể ngăn cản không cho các chất có hại đi qua vách ngàn dịch niêm mạc thấm sâu vào bên trong.

+ Cung cấp máu thường xuyên: Để tạo nên chức năng binh thường và chức năng tự phục hồi các loại tế bào của niêm mạc đều cần phải có sự cung cấp mấu dinh dưỡng và oxy một cách đầy đủ, bình thường và đều đặn. Nếu sự cung cấp máu bất thường có thể làm tổn hại đến các chức năng bình thường của vách ngăn niêm mạc dạ dày và vách ngăn dịch niêm mạc dạ dày.

+ Hormon: Tẽ bào niêm mạc phát huy chức năng cúa nó hoặc chức năng tự phục hồi của tế bào thì thường cần đến sự trợ giúp của một vài hormon. Ví dụ như các hormon ở tuyến tiền liệt, sinh trướng, sự vận chuyển đấy thức ăn xuống phía dưới là hoạt động cùa dạ dày và tá tràng, hoạt động này của dạ dàv được gọi là sự tạo chỗ trống uống dạ dày.

Việc tạo chỗ trống bình thường này trong dạ dày có thể làm cho dạ dày được nghỉ ngơi và tránh được sự tiếp xúc lâu của niêm mạc dạ dày với những chất có hại. Những chuyển động bất thường có thể làm cho việc tạo khoảng trống chứa thức ăn bị chậm lại, thời gian tiếp xúc của niêm mạc dạ dày với acid trong dạ dày và các chất cố hại khác sẽ lâu hơn dẫn đến sự tổn hại niêm mạc.

Bất cứ một bộ phận nào của hệ thống tiêu hóa mà xảy ra vấn đề đểu tạo nên sự tổn hại cho niêm mạc dạ dày. xuất hiện chứng viêm hoặc chỗ loét.

* Các nhân tố tấn công niêm mạc dạ dày

+ Acid địch vị và pepsin: Những năm 30 trước Công nguyên, một nhà y học Hy Lạp cổ đã chỉ ra rằng thức ăn có thể sản sinh ra acid. Ông cho rằng nếu đã bị loét dạ dày thì nên tránh các thức ãn có chứa acid. Năm 1500 sau Công nguyên, người chân Âu tin rằng trong dạ dày có tổn tại acid.

Năm 1823, đã chứng thực được dạ dày có thể liết ra acid muối. Trong những năm 40  của thế kỷ XX, các chuyên gia y học đã đưa ra những suy luận và phán đoán rằng: “Không có acid trong dạ dày thì không có viêm loét dạ dày”, suy luận và phán đoán này cho đến nay vẫn được sự thừa nhận của các bác sĩ khoa tiêu hóa trên toàn thế giới.

Bình thường, niêm mạc dạ dày có thể chịu được acid dạ dày có nồng độ cao, thông qua tác dụng của vách ngăn dịch niêm mạc và vách ngăn niêm mạc, tá tràng cũng được bảo vệ thông qua việc trung hoà acid, các thành phần có tính kiềm ở trên bề mặt vách ngăn dịch niêm mạc của nó. Sau khi niêm mạc bị tổn thương, các chất có tính acid có thể thông qua vách ngăn niêm mạc thâm nhập vào sâu bén trong tầng niêm mạc tạo ra các tế bào chết. Tế bào niêm mạc dạ dày ngoài việc tiết ra dịch niêm mạc, acid dạ dày, còn có thể tiết ra chất pepsin. Nguồn pepsin mới được tiết ra đó vẫn chưa có khả năng tồn tại, trong mối trường có tính acid, nó lại có thể trở thành dạng pepsin có khả năng tồn tại.

Trong điều kiện bình thường, chất pepsin tiến hành các bước tiêu hóa đầu tiên đối với các protein có trong thúc ãn, đem protein chuyển hóa thành albuminat. Albuminat sau khi đi vào ruột non lại được chất xúc tác albumin ờ tụy và chymotripsine do tuyến tụy tiết ra phân giải thành acid amin, và được tế bào niêm mạc của ruột non đưa vào trong máu, để cơ thể người hấp thụ. Khi niêm mạc bị tổn hại, pepsin có thể cùng với HT tiến sâu vào tầng niêm mạc, pepsin không có khả năng phân biệt đối với albumin ở cơ thể con người, một khi gặp được protein bất kể là do ở trong cơ thể hay từ bên ngoài đưa vào, đều tiêu hóa hết. Pepsin tiến vào tầng sâu niêm mạc có thể sẽ tiêu hóa hết các thành phần protein trên các mô tế bào niêm mạc gây ra sự tổn hại đối với các mô niêm mạc, đẫn đến sự phát sinh chỗ loét, được gọi là loét chức năng tiêu hóa.

Như vậy sự phát sinh của chỗ loét là kết quả của sự tác dụng chung của acid và pepsin. Vì thế, có người gọi nó là “loét có tính năng acid tiêu hóa.

+ Phần dưới dạ dày nhiễm khuẩn hình xoắn ốc:

Cấu tạo xoắn ốc giúp vi khuẩn H. pylori dễ xâm nhập vào niêm mạc
Cấu tạo xoắn ốc giúp vi khuẩn H. pylori dễ xâm nhập vào niêm mạc

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, một học giả người Australia đã phát hiện ra khuẩn hình xoắn ốc ở phần dưới dạ dày và ở trong chỗ loét của những bệnh nhân bị viêm loét dạ dày và tá tràng. Khuẩn hình xoắn ốc ờ phần dưới dạ dày được gọi là HP. Hơn 20 năm trở lại đây các chuyên gia về tiêu hóa trên thế giới đã tiến hành rất nhiều các cuộc nghiên cứu toàn diện về HP, và họ đã có dược những tiến bộ đáng kể trong sự hiểu biết về HP.

Bệnh và cách chữa trị Phan Hà Sơn dịch

Comments