Cập nhật các tiêu chuẩn mới nhất về chẩn đoán, điều trị Đái Tháo Đường năm 2016 của Hội Đái Tháo Đường Hoa Kì (ADA)

TIÊU CHUẨN CHẮM SÓC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CỦA ADA 2015

Hiệu đính tổng thể lần cuối toàn bộ: TS.DS. Võ Thị Hà, giảng viên DLS – ĐH Y Dược Huế

Nguồn: American Diabetes Association, (2015), Standards Of Medical Care in Diabetes.

Diabetes Care Volume 38, Supplement 1, January 2015

File tải ADA_2015_Final_TV_93 trang

Chứng hạ đường huyết và bệnh tiểu đường

Hypoglycaemia (hạ đường huyết) là bệnh trạng xảy ra khi mức đường trong máu (đường huyết) giảm xuống quá thấp, thường dưới 4mmol/L, dù mức này có thể thay đổi. Điều quan trọng là phải nhanh chóng điều trị chứng hạ đường huyết hầu ngăn không cho mức đường trong máu xuống thấp hơn nữa. Chứng này cũng được biết đến phổ biến với tên ‘hypo’, đường huyết thấp hay phản ứng với insulin

Hình ảnh minh họa
Hình ảnh minh họa

Các nguyên nhân chính gây ra chứng hạ đường huyết?

Chứng hạ đường huyết có thể do một hay nhiều sự kiện như:

> Hoãn hay bỏ lỡ bữa ăn                             > Không ăn đủ chất carbohydrate (đường hoặc tinh bột)

> Hoạt động thể lực không định trước        > Tập thể dục mạnh hơn bình thường

> Uống rượu                                                 > Quá nhiều insulin hay thuốc viên trị tiểu đường

Dù những việc này được biết gây ra chứng hạ đường huyết, nhưng trong nhiều trường hợp không thể xác định được nguyên do cụ thể.

Các triệu chứng nào?

Triệu chứng thay đổi tùy mỗi người, cảm giác thông thường là:

> Yếu ớt, run rẩy                                          > Ra mồ hôi

> Hơi thấy như muốn ngất                          > Đau đầu

> Thiếu tập trung / thay đổi hành vi            > Chóng mặt

> Hay khóc/ Khóc                                         > Cáu gắt

> Tê quanh môi và ngón tay                        > Đói

Nếu quý vị cảm thấy bất cứ một trong những triệu chứng này, hãy xét nghiệm mức đường trong máu khi thời gian và hoàn cảnh cho phép. Nếu không thể xét nghiệm, hãy điều trị như bị hạ đường huyết cho chắc chắn.

Điều trị ‘hypo’ như thế nào?

Điều ưu tiên cần làm là đảm bảo được an toàn. Chẳng hạn, nếu đang lái xe, hay đã xe vào lề đường, sau đó:

BƯỚC 1 – Quan trọng nhất

Hãy dùng carbohydrate dễ hấp thụ, chẳng hạn:

  • Các viên đường glucose tương đương 15 gram carbohydrate HAY
  • 6 – 7 viên kẹo jellybean HAY
  • ½ lon nước ngọt thường (không phải ‘diet’) HAY
  • 3 muỗng nhỏ đường hay mật ong, HOẶC
  • ½ ly nước trái cây

Xin Lưu ý: Với những ai uống thuốc Glucobay® (Acarbose), chứng hạ đường huyết cần được điều trị bằng đường glucose.

Nếu hoàn cảnh cho phép, xét nghiệm lại các mức đường trong máu để chắc chắn các mức này cao hơn 4mmol/L. Có thể mất khoảng 10 – 15 phút mới thấy được các mức đường huyết tăng. Nếu vẫn còn các triệu chứng hay mức đường huyết vẫn thấp hơn 4mmol/L, hãy lập lại bước 1.

BƯỚC 2

Nếu bữa ăn sắp tới còn hơn 20 phút, quý vị sẽ cần ăn một ít carbohydrate có tác động chậm hơn, có thể bao gồm một trong những thức ăn sau:

  • Một lát bánh mì HAY
  • Một ly sữa hay sữa đậu nành, HOẶC
  • Một miếng trái cây HAY
  • 2 -3 miếng trái mơ, quả sung khô hay các trái cây khô khác, HOẶC
  • Một hũ sữa chua tự nhiên, ít béo

Để có lời khuyên cho mỗi cá nhân, hãy thảo luận với chuyên viên y tế về tiểu đường.

Điều gì xảy ra nếu không điều trị chứng này?

Nếu không nhanh chóng điều trị, mức đường huyết có thể tiếp tục giảm và có thể dẫn đến:

> Mất khả năng phối hợp   > Nói không rõ/ líu nhíu

> Cảm giác lẫn lộn             > Bất tỉnh / lên cơn co giật

 Quý vị sẽ cần người khác giúp đỡ!

Nên làm gì nếu người bệnh bất tỉnh, thờ thẫn hay không nuốt được:

ĐÂY LÀ TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP!

Không được cho họ bất cứ thức ăn hay đồ uống nào qua đường miệng. Sau đây là những gì cần làm:

  • Đặt người này nằm nghiêng, để đường hô hấp thông suốt.
  • Tiêm một mũi Glucagon nếu có sẵn và nếu quý vị đã được huấn luyện làm điều này.
  • Gọi cấp cứu (quay số 000), nói rõ ‘cấp cứu bệnh tiểu đường’.
  • Chờ cùng với người bệnh tới khi xe cứu thương đến.
  • Khi đã hồi tỉnh lại, người này sẽ cần carbohydrate để duy trì mức đường huyết phù hợp.

Glucagon: Glucagon là hoóc-môn làm tăng mức đường trong máu và được tiêm tương tự như tiêm insulin. Glucagon được khuyến cáo dùng để đảo ngược chứng hạ đường huyết nghiêm trọng ở bệnh nhân tiểu đường. Nếu có thể tự điều trị chứng này, quý vị không cần Glucagon vì phải cần một người khác tiêm cho mình. Bác sĩ hay nhà giáo dục bệnh tiểu đường sẽ đề nghị quý vị nên có sẵn Glucagon trong trường hợp bị ‘hypo’ nặng, và sẽ chỉ quý vị, người trong gia đình và bạn bè quý vị cách sử dụng.

Không biết về chứng hạ đường huyết

Một số người không cảm thấy bất kỳ triệu chứng ‘hypo’ nào, hay chỉ thấy triệu chứng khi mức đường huyết xuống rất thấp. Vấn đề này dễ xảy ra hơn với những ai đã bị tiểu đường lâu năm, hay thường xuyên bị ‘hypo’. Những người không biết khi bị hạ đường huyết này phải kiểm tra các mức đường trong máu thường xuyên hơn. Họ rất cần được khuyên thảo luận bệnh trạng này với bác sĩ hay nhà giáo dục tiểu đường.

Nên làm gì khác?

  • Đeo dụng cụ thông báo nói rõ quý vị bị tiểu đường.
  • Ghi chép trong sổ theo dõi những lần bị hạ đường huyết và thảo luận về sổ này với bác sĩ hay nhà giáo dục tiểu đường khi đến gặp họ
  • Hãy nhớ cho gia đình, bè bạn, đồng nghiệp, người chăm sóc và ban giám hiệu trường học của quý vị biết cách nhận biết và điều trị chứng hạ đường huyết.
  • Tìm hiểu nguyên nhân khiến quý vị bị hạ đường huyết để có thể ngăn ngừa chứng này xuất hiện trở lại.
  • Liên lạc với bác sĩ hay nhà giáo dục tiểu đường nếu thường xuyên bị hạ đường huyết.
  • Nếu dùng insulin hay các loại thuốc tiểu đường nào đó, quý vị hãy luôn mang theo những thứ này để điều trị ‘hypo’ nhanh chóng.
  • Nếu dùng thuốc Acarbose (Glucobay®), hãy mang theo đường glucose như viên đường, thạch (gel) đường hay Lucozade.
  • Tham khảo tờ thông tin Rượu và bệnh Tiểu đường để có thêm lời khuyên về việc uống rượu và chứng hạ đường huyết.
  • Hãy ăn carbohydrate nếu quý vị uống rượu.
  • Trước khi lái xe có động cơ, hãy kiểm tra mức đường trong máu, và phải biết rõ là mức này cao hơn 4 mmol/L.

Trích nguồn Diabetes Australia

Nhận biết dấu hiệu bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường “Là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau: (1) tăng glucose máu, (2) kết hợp với những bất thường về chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein, (3) bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch do hậu quả của xơ vữa động mạch”.

Khi ăn, thức ăn sẽ thành một dạng năng lượng gọi là glucose. Glucose là một từ khác của chất đường. Glucose đi vào máu của quý vị và lượng đường trong máu tăng lên. Insulin là một kích thích tố do tuyến tuỵ của quý vị tạo ra. Chất này giúp chuyển glucose từ máu vào trong các tế bào để cơ thể có thể sử dụng glucose nhằm tạo ra năng lượng. Con người không thể sống mà không có insulin

Dấu hiệu bệnh tiểu đường hình ảnh minh họa
Dấu hiệu bệnh tiểu đường hình ảnh minh họa

Bệnh tiểu đường có những dấu hiệu đặc trưng sau:

• Rất khát

• Cảm thấy mệt mỏi

• Dùng nhà vệ sinh thường xuyên để đi tiểu

• Mờ mắt

• Giảm cân

• Vết thương lâu lành

• Đói thường xuyên

• Ngứa da

• Nhiễm trùng

• Tê hoặc ngứa ran ở bàn chân và/ hoặc bàn tay

• Trở ngại về sinh hoạt tình dục Người ta thường không có dấu hiệu mặc dù mức glucose trong máu của họ cao. Quý vị có thể được kiểm tra bệnh tiểu đường qua xét nghiệm máu.

Nguyên nhân

Đặc điểm quan trọng nhất trong sinh lý bệnh của bệnh tiểu đường typ 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường.

  • Yếu tố di truyền.
  • Yếu tố môi trường: là nhóm các yếu tố có thể can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các yếu tố đó là:
  • Sự thay đổi lối sống: giảm các hoạt động thể lực; thay đổi chế độ ăn uống theo hướng tăng tinh bột, giảm chất xơ gây dư thừa năng lượng.
  • Chất lượng thực phẩm: ăn nhiều các loại carbohydrat hấp thu nhanh (đường tinh chất, bánh ngọt, kẹo…), chất béo bão hòa, chất béo trans…
  • Các stress về tâm lý.
  • Tuổi thọ ngày càng tăng, nguy cơ mắc bệnh càng cao: Đây là yếu tố không thể can thiệp được.

Cơ chế bệnh sinh

Suy giảm chức năng tế bào beta và kháng insulin:

Tình trạng thừa cân, béo phì, ít hoạt động thể lực, là những đặc điểm thường thấy ở người đái tháo đường typ 2 có kháng insulin. Tăng insulin máu, kháng insulin còn gặp ở người tiền tiểu đường, tăng huyết áp vô căn, người mắc hội chứng chuyển hóa v.v…

Người đái tháo đường typ 2 bên cạnh kháng insulin còn có thiếu insulin- đặc biệt khi lượng glucose huyết tương khi đói trên 10,0 mmol/L.

Biến chứng của bệnh

Đặc điểm các biến chứng của bệnh tiểu đường đường typ 2 là gắn liền với quá trình phát sinh và phát triển của bệnh. Vì thế ngay tại thời điểm phát hiện bệnh trên lâm sàng người thày thuốc đã phải tìm các biến chứng của bệnh.

 

Insulin và bệnh tiểu đường

Insulin là gì?

Insulin là hoóc-môn do các tế bào đặc biệt có tên gọi tế bào beta trong tuyến tụy tạo ra. Khi chúng ta ăn, insulin được tiết vào máu, giúp chuyển đường glucose từ thức ăn vào các tế bào để làm năng lượng. Insulin cũng giúp tích trữ lượng glucose dư thừa trong gan.

Hình ảnh minh họa bởi Tìm thuốc nhanh
Hình ảnh minh họa bởi Tìm thuốc nhanh

Tại sao cần phải tiêm insulin?

Các phương pháp đưa insulin vào cơ thể qua đường miệng hay dưới dạng phun vào mũi đang được phát triển, nhưng chưa có sẵn. Không thể đưa insulin vào dưới dạng thuốc viên vì bao tử sẽ tiêu hóa insulin như tiêu hóa thức ăn.

Cần làm gì nếu phải điều trị bằng insulin?

Với bệnh nhân tiểu đường loại 2, sử dụng insulin có thể là một quyết định khó khăn và đáng sợ. Tuy nhiên ngày nay nhiều dụng cụ tiêm và kim tiêm nhỏ sẵn có giúp việc tiêm insulin dễ dàng nhiều hơn người ta tưởng. Thực tế, nhiều người nói họ cảm thấy rõ việc trích ngón tay để theo dõi đường trong máu hơn là cảm thấy mũi kim chích insulin. Khi bắt đầu dùng insulin, bác sĩ và nhà giáo dục tiểu đường sẽ giúp quý vị thích ứng với công việc thường lệ mới mẻ này. Qua sự giúp đỡ này và sau một thời gian, quý vị có thể tìm thấy lượng thuốc đúng để làm giảm đường trong máu (đường huyết) tới mức chấp nhận được và phù hợp với lối sống riêng của quý vị.

Có nhiều loại insulin khác nhau không?

Trên thị trường có năm loại insulin, được xếp loại tùy theo mức tác động lâu dài hay nhanh chóng trong cơ thể. Một số loại insulin có dạng trong suốt, một số có dạng đục.

Năm loại insulin có trên thị trường

1. Insulin tác động nhanh ngay lúc đầu

Insulin này nhìn TRONG SUỐT và tác động rất nhanh, từ 1 đến 20 phút là có hiệu quả, đạt đỉnh điểm khoảng 1 giờ sau và kéo dài từ 3 đến 5 tiếng đồng hồ. Khi sử dụng insulin loại này cần phải ăn ngay sau khi tiêm chích.

Insulin tác động nhanh ngay lúc đầu hiện có bán trên thị trường:

           > NovoRapid® (Insulin aspart) > Humalog® (Insulin lispro)

           > Apidra® (Insulin glulisine)

2. Insulin tác dụng ngắn

Insulin này nhìn TRONG SUỐT, làm hạ mức đường trong máu trong vòng 30 phút nên quý vị cần tiêm trước bữa ăn nửa giờ. Chất này có hiệu lực đỉnh điểm sau 2 đến 4 tiếng đồng hồ, và kéo dài 6 đến 8 tiếng. Insulin tác dụng ngắn có sẵn ở thị trường là:

           > Actrapid® > Humulin® R > Hypurin® Neutral (beef)

3. Insulin tác động từ từ

Insulin này nhìn ĐỤC và đi kèm với protamine hay kẽm để kéo dài tác dụng. Insulin này bắt đầu hiệu lực khoảng 1½ tiếng sau khi tiêm, đạt đỉnh điểm sau 4 đến 12 giờ và kéo dài 16 đến 24 tiếng. Trước khi tiêm loại insulin này, cần nhớ xem tờ chỉ dẫn trong bao để biết cách chuẩn bị, bao gồm lắc nhẹ hay xoay tròn thuốc trước khi sử dụng. Insulin tác động từ từ đi kèm theo protamine hiện có trên thị trường là:

> Protaphane® > Humulin® NPH > Hypurin Isophane® (beef)

4. Insulin hỗn hợp

Insulin này nhìn ĐỤC, có sẵn các hợp chất trộn sẵn, hoặc là insulin tác động nhanh hoặc là insulin tác động chậm, pha với insulin tác động từ từ, giúp dễ dàng đưa cả hai loại thuốc bằng một mũi tiêm (chích). Nếu insulin này ở tỉ lệ ‘30/70’ nghĩa là chứa 30% insulin tác động nhanh và 70% insulin tác động từ từ. Còn ‘50/50’ là 50% mỗi loại. Trước khi chích loại insulin này, cần nhớ xem tờ chỉ dẫn trong bao để biết cách chuẩn bị, bao gồm lắc nhẹ hay xoay tròn thuốc trước khi sử dụng. Insulin hỗn hợp chứa loại tác động nhanh hiện có trên thị trường là:

> NovoMix® 30 (là 30% insulin aspart, 70% insulin aspart kết tinh protamine)

> Humalog®Mix 25 (25% insulin lispro, 75% insulin lispro protamine suspension)

> Humalog®Mix 50 (50% insulin lispro, 50% insulin lispro protamine suspension)

Insulin loại hỗn hợp có chứa insulin tác dụng nhanh hiện có trên thị trường là:

> Mixtard® 30/70 > Mixtard® 50/50 > Humulin® 2 30/70

5. Insulin tác động lâu dài

Loại này tiêm hằng ngày 1 hoặc 2 lần và kéo dài được 24 giờ. Đây là loại insulin dùng làm nền. Nếu quý vị bị tiểu đường loại 1, cần bổ sung insulin tác động lâu dài bằng tiêm insulin tác động nhanh hoặc chậm. Nếu quý vị bị tiểu đường loại 2 và đang cần điều trị bằng insulin, có thể phải cần thêm insulin tác động nhanh hoặc chậm, hoặc tiếp tục chỉ dùng thuốc viên có insulin tác động lâu dài. Bác sĩ sẽ có lời khuyên quý vị. Insulin tác động lâu dài hiện có trên thị trường là:

[quote_box_center] > Lantus® (insulin glargine)*            > Levemir® (insulin detemir)*[/quote_box_center]

Lantus không được pha lẫn với bất kỳ chất insulin nào khác trong một ống tiêm. Lantus có bán dưới dạng bút dùng 1 lần gọi là Solostar®, cũng như ở dạng thuốc ống 3mL dùng với bút sử dụng nhiều lần. Levemir có bán dưới dạng bút dùng 1 lần gọi là FlexPen® cũng như ở dạng ống để dùng với dụng cụ bút sử dụng nhiều lần.

Tiếp Theo: Tiêm insulin như thế nào?

Tìm Hiểu các dạng Bệnh Tiểu Đường

Các dạng của bệnh tiểu đường?

Có 3 dạng bệnh tiểu đường:

  • Loại 1: – Thường được gọi là tiểu đường lúc nhỏ tuổi. Bệnh này xảy ra khi những tế bào tiểu đảo của tuyến tụy bị hủy hoại, có nghĩa là chúng không thể tạo ra insulin. Bệnh tiểu đường loại 1 thường được chẩn đoán lúc tuổi còn nhỏ nhưng nó vẫn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Có khoảng từ 5 -10 phần trăm trong số những người bệnh tiểu đường mang dạng bệnh này. Và bệnh là do hệ thống miễn nhiễm của cơ thể tấn công vào tuyến tụy chứ không phải do các yếu tố của cách sống.
  • Loại 2  – Chiếm 90 phần trăm số người được chẩn đoán mang bệnh tiểu đường. Đây là căn bệnh về cách sống mà nó là hệ quả của việc bạn đã quan tâm đến bản thân mình như thế nào. Bạn có thể trì hoãn hoặc ngay cả có thể ngăn chận bệnh xảy ra bằng cách năng động hơn, ăn uống lành mạnh, xuống cân, duy trì trọng lượng cơ thể tốt và khỏe cho bạn.
  • Loại 3 hay còn gọi là tiểu đường thai kỳ– đây là một dạng tiểu đường xảy ra cho một số phụ nữ vào giai đoạn cuối của thai kỳ và sẽ hết sau khi sanh em bé.
Tổng quan bệnh tiểu đường hình ảnh
Tổng quan bệnh tiểu đường hình ảnh

Tiểu Đường loại 2 ảnh hưởng đến cơ thể như thế nào?

Tiểu đường loại 2 Không mang bệnh tiểu đường
Tụ thế kết hợp chất insulin ở tế bào không làm cho lượng đường huyết (tiếng Anh là glu-cose) hấp thụ đủ vào tế bào. Tuyến tụy không tạo đủ chất insulin để khắc phục trở ngại “ đề kháng insulin” Trong lúc tiêu hóa thì chất đường hữu cơ (tiếng Anh gọi là car-bo hy-drat) ví dụ như chất đường ngọt và tinh bột từ thực phẩm được chuyển hóa thành chất glu-cose mà cũng thường được gọi là đường huyết.
Sự hấp thụ đường huyết vào trong tế bào có thể

giảm đi vì 2 lý do :a)Tụ thế kết hợp insulin bị ít đi Những tụ thế insulin sẵn có thì không thể thực hiện vai trò của mình.

Chất glu-cose vận hành trong máu và được sử dụng như nguồn thực phẩm cho các tế bào trong cơ thể. Tuyến tụy sản xuất chất insulin để giúp cho thế bào hấp thụ đường huyết
Các tế bào mỡ ở vùng bụng sản sinh ra những hor-mon làm cản trở sự hoạt động của chất insulin Chất insulin giao tiếp với một tụ thế – tụ thế là một đạm tố tim thấy trên bề mặt của tế bào. Khi chất insulin kết vào tụ thế thì nó bắt đầu một loạt những tiến trình nội bào (những sự kiện xảy ra bên trong tế bào) để dẫn đến kết quả là sự hấp thụ đường huyết vào trong tế bào.
Bởi vì chất insulin không thể hoạt động hữu hiệu và không được tuyến tụy sản xuất đủ nên sự vận chuyển glu-cose vào trong tế bào bị hạn chế, và như thế thì lượng đường trong máu sẽ lên cao Quá trình hấp thụ glu-cose vào trong tế bào sẽ làm cho đường trong máu trở lại mức bình thường

 Những bệnh trạng nào thường gắn liền với bệnh tiểu đường?

Nếu để bệnh không chữa trị hoặc quản lý bệnh không đúng cách thì có thể gây ra nhiều biến chứng gồm có:

  • Bệnh tim và/hoặc đột quỵ
  • Bệnh thận
  • Bệnh về mắt
  • Ở phái nam thì bị bất lực trong quan hệ sinh lý
  • Tổn thương dây thần kinh

Trong việc ngăn ngừa hoặc trì hoãn sự khởi đầu của các biến chứng thì bước đầu tiên là am hiểu những yếu tố nguy hiểm cũng như những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh tiểu đường.

Những yếu tố nguy hiểm của bệnh tiểu đường là những điểm nào?

Nếu bạn ở tuổi 40 trở lên thì bạn dễ có nguy cơ mang bệnh tiểu đường loại 2, do đó cứ ít nhất 3 năm bạn nên được kiểm tra một lần. Và nên được kiểm tra sớm hơn, và/hoặc thường xuyên hơn nếu bạn nằm trong nhóm có nguy cơ cao (người thổ dân bản xứ, người gốc Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha, Á Châu, Nam Á hoặc tổ tiên là người Phi châu) và nếu quý bị béo phì (đặc biệt là mập phì chung quanh vùng bụng). Ngoài ra cũng có những yếu tố nguy hiểm khác như:

  • Có cha mẹ, anh/em trai hoặc chị/em gái mang bệnh tiểu đường
  • Có những biến chứng gắn liền với bệnh tiểu đường
  • Sanh con cân nặng lơn 4 ký-lô, khoảng 9lb
  • Đã trải qua bệnh tiểu đường thai kỳ
  • Mức dung nạp glu-cose bị yếu hoặc kết quả kém khi thử glu-cose nhịn ăn
  • Cao huyết áp
  • Cao mỡ trong máu (cholesterol)
  • Đã được chẩn đoán mang hội chứng đa u nang ở buồng trứng, chứng acanthosis nigricans (bị những mãn da sạm trên người), hoặc bệnh tâm thần phân liệt.

Những dấu hiệu cảnh báo? 

Bạn có thể nhận thấy các điều sau:

  • Khát nước hơn bình thường
  • Đi tiểu nhiều hơn
  • Lên cân hoặc sụt ký không cần cố gắng
  • Mệt mỏi nhiều hoặc cảm thấy không có sức lực
  • Các vết bầm hoặc vết cắt chậm lành
  • Cảm thấy lăng tăng như kim chích hoặc tê ở bàn tay hoặc bàn chân
  • Gặp trở ngại trong vấn đề cường dương

Tuy nhiên, có nhiều người mang bệnh tiểu đường loại 2 nhưng có thể không tỏ một triệu chứng nào cả

Tập thể dục giúp đề kháng bệnh tiểu đường như thế nào?

  • Mỡ trong cơ thể làm cho các tế bào đề kháng với insulin nhiều hơn. Và insulin thì cần để chuyển hóa glu-cose thành năng lượng.
  • Tập thể dục thường xuyên, đặc biệt là tập kháng lực sẽ làm giảm mỡ và tăng bắp cơ. Khi cơ thể hấp thụ nhiều glu-cose hơn thì glu-cose trong máu sẽ ít lại. Điều này có nghĩa là vận động cơ thể làm hạ mức đường huyết trong lúc tập và sau khi tập.
  • Cùng với việc kiểm tra trọng lượng cơ thể và kích thích insulin hoạt động, tập thể dục thường xuyên cũng tốt cho tim. Hội Tiểu Đường của Canada đề nghị mỗi tuần ít nhất là 150 phút tập thể dục nhịp điệu ở mức vừa phải đến mức nổ lực (ví dụ 30 phút, năm ngày trong một tuần). Khi bạn sẵn sàng, thử tập thêm thể dục kháng lực như tập nhấc tạ 3 lần trong một tuần. Bạn nên bàn thảo với bác sĩ gia đình trước khi bắt đầu tập chương trình mới.

Theo tài liệu của Jennifer Partridge, Tạp chí Apple

Biến chứng thận của bệnh đái tháo đường

Biến chứng thận của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ)gồm biến chứng ở cầu thận (còn gọi là sơ hóa cầu thận do ĐTĐ hoặc vắn tắt là bệnh thận ĐTĐ), bệnh lý xơ vữa mạch máu ở thận, bệnh lý nhiễm trùng ở thận và đường niệu.

Biến chứng thận của bệnh đái tháo đường
Biến chứng thận của bệnh đái tháo đường

BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Bệnh thận ĐTĐ thuộc nhóm biến chứng mạch máu nhỏ, tổn thương chính nằm ở cầu thận (Cầu thận là nơi mà máu được lọc qua để tạo thành nước tiểu; các chất được lọc qua cầu thận gồm nước, các chất diện giải như natri, kali, các chất thải trong quá trình chuyển hóa như urê, acid uric… một số thuốc… Chất đạm hoặc các chất có trọng khối phân tử lớn sẽ được giữ lại trong máu, bình thường không có đạm trong nước tiểu).

Bệnh thận ĐTĐ có các đặc điểm:

–    Tiểu albumin liên tục (>300mg/ngày) xác định ít nhất 2 lần trong vòng 3-6 tháng

–    Chức năng lọc của thận giảm dần

–    Tăng huyết áp, có thể xuất hiện ở giai đoạn đầu (bệnh ĐTĐ type 2) hoặc trễ

Tầm quan trọng của bệnh thận đái tháo đường

Sự xuất hiện bệnh thận ĐTĐ thay đổi tùy sắc tộc, quốc gia, tính chung vào khoảng 40% các bệnh nhân ĐTĐ. Đây là nguyên nhân hàng đầu của suy thận giai đoạn cuối,  lọc thận và ghép thận ở các nước phát triển. Tại Việt Nam, bệnh thận ĐTĐ cũng là nguyên nhân chính của suy thận giai đoạn cuối và lọc thận.

Bệnh thận ĐTĐ thường hiện diện cùng với bệnh võng mạc ĐTĐ, bệnh thần kinh ĐTĐ. Đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực.

Khi nào bệnh nhân đái tháo đường có thể bị biến chứng thận?

Những bệnh nhân đái tháo đường có thêm các tình trạng sau đây dễ bị bệnh thận đái tháo đường, người ta gọi đó là yếu tố nguy cơ của bệnh thận đái tháo đường:

o    Glucose huyết không ổn định, HbA1c cao

o    Tăng huyết áp

o    Có rối loạn mỡ máu; tăng cholesterol máu

o    Tuổi cao

o    Ăn nhiều đạm

o    Phái nam

o    Trong gia đình có người bị tăng huyết áp

Bệnh thận ĐTĐ xảy ra như thế nào?

Ở bệnh nhân ĐTĐ típ 1 nếu không điều trị tốt, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến thận. Bệnh có thể diễn tiến qua 5 giai đoạn.

+ Giai đoạn 1: đường huyết tăng cao, lượng máu đến thận tăng. Thận tăng kích thước.

+ Giai đoạn 2: chưa có triệu chứng rõ trên lâm sàng. Bắt đầu có những thay đổi mô học ở cầu thận.

+ Giai đoạn 3: tiểu albumin (dân gian thường gọi albumin là lòng trắng trứng). Đây là dấu chỉ điểm bệnh thận diễn tiến nặng hơn. Nếu không điều trị, khoảng 20-40% sẽ tiến đến bệnh thận rõ trên lâm sàng

+  Giai đoạn 4: bệnh thận rõ trên lâm sàng. Bệnh nhân sẽ tiểu đạm. Albumin trong nước tiểu 24 giờ lớn hơn 300mg. Chức năng lọc của thận bắt đầu suy giảm. Huyết áp bệnh nhân bắt đầu tăng.

+ Giai đoạn 5: bệnh thận giai đoạn cuối. Nếu không điều trị khoảng 20% sẽ bị bệnh thận giai đoạn cuối, cần phải lọc thận hoặc thay thận để duy trì cuộc sống.

Ở bệnh nhân ĐTĐ type 1, albumin trong nước tiểu là biểu hiện đầu tiên của tổn thương thận trong lâm sàng. Ở bệnh nhân ĐTĐ type 2, ngay lúc mới chẩn đoán có thể bệnh nhân đã có tăng huyết áp, tiểu albumin. Ngoài ra, khoảng 20% bệnh nhân ĐTĐ type 2 diễn tiến đến đến bệnh thận mạn nhưng không có albumin trong nước tiểu. Albumin trong nước tiểu có liên quan với tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột quị.

Làm thế nào để biết bị bệnh thận đái tháo đường?

Để tầm soát bệnh thận ĐTĐ, các bác sĩ sẽ cho tìm albumin trong nước tiểu. Tìm  albumin trong  nước  tiểu sẽ giúp can thiệp  sớm để phòng  ngừa  bệnh  thận  nặng  thêm.  Ở bệnh nhân ĐTĐ típ 1 cần thử albumin nước tiểu khoảng 3-5 năm sau khi chẩn đoán bệnh. Ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2, cần tìm albumin ngay lúc mới chẩn đoán.

Các triệu chứng lâm sàng như phù, thiếu máu, chán ăn, mệt mỏi, thường chỉ xuất hiện ở giai đoạn trễ.

Lấy nước tiểu như thế nào để tìm albumin, kết quả như thế nào là có bệnh?

Có 3 cách lấy nước tiểu (NT) để tìm albumin vi lượng:

+ Lấy một mẫu nước tiểu bất kỳ và đo tỉ số albumin/creatinin trong nước tiểu, cách này thường được các bác sĩ chỉ định

+ Lấy nước tiểu 24 giờ để đo tất cả lượng đạm trong đó. Đồng thời tính toàn bộ thể tích nước tiểu. Cách này ít được thực hiện vì khó lấy đầy đủ nước tiểu trong 24 giờ.

+  Lấy nước tiểu trong một khoảng thời gian (4 giờ hoặc qua đêm) và đo albumin, cách này cũng không thuận tiện.

Kết quả:  Các mức độ albumin trong  nước tiểu

 Các  mức  độ tiểu đạm  Lấy nước tiểu buổi sáng Lấy   nước   tiểu   trong một khỏang thời gian
Tỉ số  albumin/creatinin  trong nước tiểu Qua đêm 24 giờ
mg/g μg/phút mg/24 giờ
Bình thường <30  <20  <30
Tiểu albumin 30-300Nếu tính bằng mg/mmol

>2,5-25mg/mmol (nam)

>3,5-35 mg/mmol (nữ)

 20-200  30-300
Tiểu đạm >300 >200 >300

Khi kết quả bất thường làm lại sau 3-6 tháng để xác định lại, nếu kết quả vẫn bất thường, sẽ chẩn đoán có albumin trong nước tiểu.

Nếu không làm được các xét nghiệm trên có thể dùng giấy nhúng nước tiểu để tìm albumin. Sau đó nếu kết quả dương tính, vẫn phải dùng một trong các phương pháp trên để chẩn đoán.

Khi bị bệnh thận đái tháo đường, cần phải làm gì?

Kiểm soát đường huyết thật tốt, HbA1c <7%.

Kiểm soát huyết áp thật tốt. HA < 130/80 mmHg. Thuốc được lựa chọn hàng đầu là thuốc ức chế enzym chuyển hoặc thuốc chẹn kênh calci.

Ăn khẩu phần giảm đạm (0,8 gam đạm/kg cân nặng lý tưởng/ngày).

Nếu dùng thuốc điều trị các bệnh đi kèm, cần hỏi ý kiến của bác sĩ vì một số thuốc có thể làm bệnh thận nặng thêm (thí dụ kháng sinh, thuốc điều trị đau khớp..)

Bệnh thận ĐTĐ phải được điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa.

Khi nào cần hỏi ý kiến chuyên khoa thận?

Bác sĩ chuyên khoa nội tiết sẽ tham khảo thêm ý kiến của bác sĩ chuyên khoa thận khi

o    Độ lọc cầu  thận  giảm dần  (tăng lượng  creatinin  trong  máu,  độ  lọc  cầu  thận <60ml/phút).

o    Chức năng thận giảm nhanh, có hồng cầu trong nước tiểu

o    Khó kiểm soát huyết áp hoặc có tăng kali máu

o    Bệnh nhân có thêm một bệnh khác làm tổn thương thận nhiều hơn.

Hình ảnh cầu thận

CÁC TỔN THƯƠNG  KHÁC Ở THẬN CÓ THỂ GẶP Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ

Các tổn thương này không phải là riêng có của bệnh ĐTĐ, tuy nhiên khi xảy ra ở bệnh nhân

ĐTĐ, bệnh cảnh có thể nặng hơn và diễn tiến kéo dài nếu glucose huyết không ổn định.

1) Bệnh nhân ĐTĐ khi chụp hình bằng thuốc cản quang dễ bị tổn thương ở thận. Cần bảo đảm bù đủ nước cho bệnh nhân, ngưng các thuốc như metformin…cho đến khi chụp xong

2) Bệnh nhân ĐTĐ cũng hay bị nhiễm trùng đường tiểu nhất là phụ nữ và người bị tổn đọng nước tiểu ở bàng quang.

3) Xơ vữa động mạch nặng ở động mạch thận và tình trạng thiếu nước kèm theo có thể đưa đến tắc mạch máu nuôi thận (nhồi máu thận).

4) Hoại tử gai thận hoặc nhú thận: xảy ra ở bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiểu trên (viêm đài bể thận) kèm thêm các yếu tố thuận lợi như xơ vữa động mạch, thiếu nước trầm trọng. Bệnh nhân bị sốt cao, tiểu máu, có thể bị suy thận cấp.

Vấn đề ăn uống đối với bệnh tiểu đường

Hướng dẫn ăn kiêng đối với bệnh tiểu đường giống như những khuyến cáo cho mọi người Việc ăn uống lành mạnh quan trọng với tất cả mọi người, kể cả người trẻ tuổi mắc bệnh tiểu đường. – vì vậy cả gia đình có thể ăn cùng các thực phẩm lành mạnh.

Ăn uống với bệnh tiểu đường
Ăn uống với bệnh tiểu đường
  • Dùng nhiều loại thức ăn dinh dưỡng khác nhau
  • Ăn nhiều rau, đậu và trái cây
  • Ăn nhiều ngũ cốc (gồm bánh mì, gạo, mì pasta và các loại), nên chọn loại wholegrain (nguyên hạt)
  • Ăn thịt nạc, cá, thịt gia cầm và / hay các thứ thay thế
  • Ăn/ uống sữa, sữa chua, phô-mai và / hay các thứ thay thế – các loại giảm béo được khuyến khích dùng cho các trẻ lớn hơn và người lớn
  • Chọn nước là đồ uống
  • Giới hạn chất béo bảo hòa (saturated fat) và ăn điều độ chất béo nói chung
  • Chọn thức ăn ít muối
  • Chỉ dùng một lượng nhỏ đường và đồ ăn/thức uống có thêm đường

Thức ăn và Bệnh tiểu đường

Để kiểm soát bệnh tiểu đường, quan trọng là cân bằng đúng thức ăn từ những nhóm thực phẩm khác nhau.

Tháp dinh dưỡng với bệnh tiểu đường
Tháp dinh dưỡng với bệnh tiểu đường

Thức ăn bao gồm 3 nhóm năng lượng chính:

  • Carbohydrate (Hydrat-carbon)
  • Chất đạm (prôtêin)
  • Chất béo

Các chất đạm, chất béo và carbohydrate trong thức ăn cung cấp năng lượng cơ thể chúng ta cần.

 Carbohydrate

Carbohydrate là một trong những nguồn năng lượng chính cho cơ thể. Khi chúng ta ăn carbohydrate, chúng phân hủy thành đường glucose trong máu, sau đó chuyển thành năng lượng các cơ bắp và tế bào cơ thể cần.

Thức ăn có nhiều carbohydrate bao gồm:

carbohydrate  food list
carbohydrate food list
  • Các loại bánh mì và ngũ cốc – như bánh mì, ngũ cốc ăn sáng, cơm, mì, lúa mạch, cháo, bột sắn
  • Trái cây – như trái cây tươi, đóng hộp, trái cây khô, nước trái cây
  • Rau củ nhiều tinh bột – như bắp, khoai tây, khoai lang
  • Các sản phẩm từ sữa – sữa, sữa chua, sữa trứng và sữa đậu nành
  • Các loại đậu – như đậu lăng, đậu chickpea, đậu nấu
  • Các thức ăn nhẹ – như bánh quy, bánh quy giòn, thanh muesli (muesli bar), thanh bánh trái cây (fruit bar)
  • Đường – như đường sucrose, glucose và các thức ăn/thức uống có thêm đường

Tất cả các thức ăn carbohydrate phân hủy thành glucose trong máu và cung cấp nguồn năng lượng quan trọng. Để kiểm soát bệnh tiểu đường, quan trọng là cân bằng đúng các thức ăn carbohydrate.

Chất đạm (protein)

Chất đạm quan trọng cho việc sinh trưởng và phát triển, điều chỉnh các mô tế bào và có thể được dùng như một nguồn năng lượng cho cơ thể. Chất đạm không ảnh hưởng đến mức đường glucose trong máu.

Các thức ăn có độ đạm cao bao gồm

  • Thịt, thịt gà, cá và hải sản
  • Phô-mai
  • Trứng
  • Các loại hạt
  • Đậu: như đậu nấu, đậu lăng, đậu chickpea
  • Các thứ thay thế thịt như đậu hũ
  • Sữa: hay sữa đậu nành (bánh đậu nành lên men)

Những loại thức ăn này có độ đạm cao và cũng chứa carbohydrate.

Các thức ăn có đạm có thể có nhiều chất béo bảo hòa, vì vậy quan trọng là chọn các loại có ít chất béo hơn như thịt nạc, và các thức ăn từ sữa ít béo.

Chất béo

Chất béo là một phần thiết yếu trong chế độ ăn uống lành mạnh, và quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển bình thường.

Có nhiều loại chất béo khác nhau trong thực phẩm, gồm có:

  • Chất béo polyunsaturated
  • Chất béo monounsaturated
  • Chất béo bảo hòa

Các chất béo polyunsaturated và monounsaturated có trong dầu thực vật và bơ margarine như dầu canola, dầu phộng, dầu hoa hướng dương và dầu mè, cũng như các loại hạt, hạt giống và cá. Các chất béo này là lựa chọn tốt cho sức khỏe nhất.

Chất béo bảo hòa có trong thực phẩm từ động vật như thịt nhiều mỡ, bơ (động vật), trong các sản phẩm từ sữa nhiều béo cũng như trong nước dừa, nước cốt dừa, dầu cọ và thức ăn mua mang về (take-away) và snack (ăn nhẹ). Chất béo có trong thực phẩm như mỡ nấu ăn, bột nhão, thức ăn snack và đồ take-away. Chất béo bảo hòa và trans fat có thể làm tăng mức cholesterol trong máu và nên giới hạn.

Dù chất béo trong thực phẩm sẽ không trực tiếp tác động đến mức đường glucose trong máu, nhưng nên theo một chế độ ăn uống ít chất béo bảo hòa để có sức khỏe tốt về lâu dài và giảm thiểu nguy cơ bị các biến chứng tiểu đường. Tất cả các chất béo đều có nhiều kilojoules (đơn vị năng lượng) và ăn quá nhiều bất kỳ loại chất béo nào đều có thể bị tăng cân. Để giảm lượng chất béo bảo hòa trong chế độ ăn uống của trẻ, hãy thử các đề nghị sau:

  • Dùng sữa giảm béo cho trẻ từ 2 tuổi trở lên
  • Chọn loại sữa chua, kem, sữa trứng ít béo, phô-mai giảm béo và nước dừa ít béo
  • Giới hạn thực phẩm đóng gói có lượng béo cao như khoai tây chiên giòn, sô-cô-la và bánh quy
  • Khuyến khích các snack lành mạnh có trái cây, bánh mì, ngũ cốc, các thức ăn từ sữa ít béo và rau
  • Dùng ít dầu monounsaturated hay polyunsaturated và giới hạn chiên ngập dầu
  • Cố hạn chế đồ take-away ít hơn một lần mỗi tuần
  • Khuyên chọn các đồ ăn lành mạnh trong căn-tin trường
  • Dùng thịt nạc, lạng bỏ phần mỡ thừa và da gà
  • Dùng phương thức nấu ăn ít béo như nướng grill, chiên bằng chảo không dính (non-stick), nấu microwave, BBQ hoặc hấp
  • Mỗi tuần nên ăn một đến hai bữa cá
  • Dùng bơ margarine (như canola, hoa hướng dương) thay cho bơ động vật

Các thực phẩm khác

Thực phẩm như rau xanh, rau xà lách, cà rốt, hành tây, cà tím, bông cải, bí và dâu sẽ không ảnh hưởng đến mức đường glucose trong máu. Những thực phẩm này chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ, tốt cho sức khỏe. Cố khuyến khích con quý vị ăn nhiều rau.

Carbohydrate và Bệnh tiểu đường

Carbohydrate ảnh hưởng trực tiếp đến mức đường trong máu và cần được giữ cân bằng với mức hoạt động và lượng insulin. Đạt được cân bằng này có thể giúp giữ mức đường glucose trong máu gần mức bình thường.

Để đạt được cân bằng đúng này, quan trọng là nghĩ về lượng, loại và thời điểm ăn thực phẩm có carbohydrate trong ngày.

Các đơn vị (trao đổi) carbohydrate

Lượng carbohydrate đúng quan trọng trong việc cung cấp cho trẻ năng lượng cần thiết hàng ngày, cũng như cho sự tăng trưởng và phát triển thích hợp.

Các đơn vị (trao đổi) carbohydrate được dùng để đo lượng carbohydrate trong các thực phẩm khác nhau. Một đơn vị (1E) thức ăn có carbohydrate bao gồm 15 gram carbohydrate.

Các đơn vị này không liên hệ đến trọng lượng thực phẩm, ví dụ, một miếng bánh mì có thể nặng 40 gram nhưng chỉ chứa 15 gram carbohydrate.

Một vài ví dụ cho một đơn vị carbohydrate là:

  • 1 lát bánh mì
  • 1 trái cam
  • 1/3 ly cơm
  • 1/3 ly mì

Tất cả các thực phẩm này chứa gần 15 gram carbohydrate và có thể được “trao đổi” với nhau, cho cùng 1 lượng carbohydrate, và vì vậy cùng một lượng đường glucose sẽ vào máu. Chuyên gia dinh dưỡng có thể cho quý vị một danh sách các đơn vị carbohydrate.

Bs. Nguyễn Đình Vân

Tự mình kiểm soát bệnh Tiểu đường với mục tiêu ABC

Tự Kiểm soát bệnh tiểu đường đảm bảo tuân thủ mục tiêu ABC của bệnh tiểu đường.

Bệnh tiểu đường hình ảnh minh họa
Bệnh tiểu đường hình ảnh minh họa

A1c:

Xét nghiệm A1c (hemoglobin A1c hoặc HbA1c) là xét nghiệm máu được bác sĩ thực hiện ít nhất 2 lần mỗi năm. Xét nghiệm này đo lượng đường trong máu trung bình trong 2-3 tháng cuối. Mục tiêu A1c của bệnh nhân phải thấp hơn 7% hoặc thấp hơn 8%.

Huyết áp

Mức huyết áp phải thấp hơn 140/90 mm Hg. Đối với người bệnh tiểu đường, huyết áp cao sẽ làm tăng nguy cơ cho bệnh tim và thận. Đo huyết áp mỗi lần khám bệnh và nếu có thể thì đo tại hiệu thuốc địa phương. Ghi lại kết quả  và mang theo khi đến khám lần sau.

Cholesterol

Hàm lượng cholesterol LDL (cholesterol xấu) phải thấp hơn 100 mg/dL.

Hàm lượng LDL cholesterol cao có thể bám vào mạch máu và tăng nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ. Cholesterol toàn phần phải dưới 200.

Đạt và giữ con số mục tiêu là việc rất quan trọng. Ba công cụ đơn giản có thể giúp đạt mục tiêu “ABC” được liệt kê dưới đây.

Hãy Vận động!

Vận động rất quan trọng cho người bệnh tiểu đường. Vận động thường xuyên có thể:

  • Giảm thấp glucose máu và huyết áp
  • Giảm thấp LDL cholesterol (cholesterol xấu) và tăng (HDL) cholesterol tốt.
  • Cải thiện cách cơ thể sử dụng insulin
  • Giảm nguy cơ bệnh tim và đột quỵ
  • Giữ cho tim và xương khỏe
  • Giúp giảm cân/bớt mỡ thừa
  • Cho cơ thể có thêm năng lượng
  • Giảm mức căng thẳng

Có nhiều cách để hoạt động. Tìm những điều mình thích làm. Dưới đây là một số lựa chọn:

  • Đi bộ thay vì ngồi khi nói chuyện điện thoại
  • Đi cầu thang thay vì sử dụng thang máy
  • Đi bộ nhanh
  • Xuống xe buýt hoặc tàu sớm một trạm và đi bộ
  • Đạp xe đạp.
  • Khiêu vũ.
  • Nâng các quả tạ nhỏ.
  • Làm vườn hoặc quét lá.

Ăn Chế độ ăn Lành mạnh

Ăn Chế độ ăn lành mạnh sẽ giúp:

  • Giữ hàm lượng glucose, còn gọi là đường huyết trong giới hạn bình thường
  • Cảm thấy khỏe mỗi ngày
  • Giảm cân nếu cần
  • Giảm nguy cơ bệnh tim, đột quỵ và những vấn đề  khác do bệnh tiểu đường

Rau củ: (Rau bina, Đậu Hà Lan, Cải thìa, Bông cải xanh, Đậu xanh, v.v…).

Sữa gầy hoặc Ít béo

Nhiều người nghĩ chế độ ăn lành mạnh cho người bệnh tiểu đường phức tạp, nhưng nó cũng giống như chế độ ăn lành mạnh cho người bình thường.

Ăn Đúng loại Thực phẩm

Rau củ là thức ăn ít mỡ và giàu vitamin:

Hạt còn Nguyên cám: (Gạo lức, Yến mạch, Bánh ngô, Bánh mì nâu)

Protein (Đậu, Hải sản, Thịt nạc, Trứng)

Trái cây

  • Rau bina, cải xoăn
  • Bông cải xanh, cải thìa
  • Khoai lang, cà rốt
  • Đậu Hà Lan, đậu lima
  • Bí (nhiều loại)

Thực phẩm giàu protein mà ít mỡ:

  • Hải sản
  • Thịt nạc
  • Sữa hoặc pho mát ít béo; đậu

Carbohydrates từ Hạt Nguyên cám như:

  • Gạo lức
  • Bánh mì nâu
  • Đậu
  • Yến mạch và đại mạch

Cố gắng Không Ăn Thực phẩm có Nhiều Chất béo và/hoặc Đường

  • Nước ngọt như soda, trà đường hoặc nước ép
  • Bơ, sữa nguyên và kem
  • Thực phẩm chiên rán
  • Da gà và thịt đỏ
  • Bánh kem, bánh ngọt và thực phẩm nướng khác

Ăn Đúng Giờ Trong Ngày

  • Nếu đợi quá lâu mới ăn, thì hàm lượng đường trong máu có thể quá thấp. Nếu ăn nhiều bữa quá gần nhau hoặc nhiều bữa ăn nhẹ trong ngày, thì hàm lượng đường trong máu có thể quá cao.
  • Đừng bỏ bữa ăn.

Liên hệ  với Bác sĩ thường xuyên

  • Nhiều người dùng thuốc giúp kiềm soát bệnh tiểu đường. Thảo luận với bác sĩ để bảo đảm quý vị hiểu khi nào dùng thuốc và cách dùng thuốc như thế nào.
  • Luôn luôn nói với bác sĩ của quý vị trước khi bắt đầu chế độ ăn mới hoặc chương trình tập thể dục.

Nguồn:

Trung tâm Y khoa Đại học Bang Ohio, Hệ thống Y Tế Mount Carmel và OhioHealth,

www.healthinfotranslations.org

Bệnh tiểu đường là gì?

Bệnh tiểu đường là tên gọi một nhóm các bệnh trạng khác nhau khi có quá nhiều đường glucose trong máu. Tuyến tụy hoặc không thể tạo ra insulin, hoặc insulin được tạo ra không đủ và không hoạt động thích đáng. Khi insulin không tác động, glucose tích tụ trong máu dẫn đến các mức đường trong máu (đường huyết) cao, gây ra các vấn đề sức khỏe liên quan đến bệnh tiểu đường.

Bệnh tiểu đường hình ảnh: timthuocnhanh.com
Bệnh tiểu đường hình ảnh: timthuocnhanh.com
  • Cơ thể cần glucose, một loại đường đặc biệt, làm nguồn năng lượng chính. Cơ thể tạo ra glucose từ thức ăn có carbohydrate (như đường hay tinh bột) như các loại bánh mì, ngũ cốc ăn sáng, cơm (gạo), mì pasta, khoai tây, sữa, sữa chua và trái cây.
  • Đường glucose truyền trong máu đi khắp cơ thể – mức đường trong máu (đường huyết) này không nên quá cao hay quá thấp. Khi lên cao hơn một mức nhất định, glucose phải ra khỏi máu, đi vào các mô cơ thể, cung cấp năng lượng cần thiết cho các tế bào hoạt động hiệu quả. Một lượng glucose được trữ trong gan để dùng khi cần (giống như quý vị trữ thức ăn trong tủ bếp). Khi đường glucose giảm xuống quá thấp, một lượng glucose trữ trong gan được phóng thích vào máu đưa mức đường này cao trở lại.
  • Insulin là hoóc-môn do tuyến tụy tạo ra; tuyến này nằm ngay dưới dạ dày. Insulin giống như chìa khóa mở ‘các cửa’ vào tế bào cơ thể (các kênh glucose) và cho phép glucose từ máu vào tế bào để dùng làm năng lượng. Đây là quá trình trao đổi đường glucose.
  • Ở bệnh tiểu đường, tuyến tụy hoặc không thể tạo ra insulin hoặc insulin tạo ra không thể hoạt động thích đáng.
  • Nếu insulin không làm nhiệm vụ, các rãnh lưu thông đường glucose sẽ bị đóng. Glucose tích tụ trong máu, dẫn đến mức đường trong máu cao, gây ra các vấn đề sức khỏe liên quan đến bệnh tiểu đường.

Có 3 dạng bệnh tiểu đường:

Loại 1: – thường được gọi là tiểu đường lúc nhỏ tuổi. Bệnh này xảy ra khi những tế bào tiểu đảo của tuyến tụy bị hủy hoại, có nghĩa là chúng không thể tạo ra insulin. Bệnh tiểu đường loại 1 thường được chẩn đoán lúc tuổi còn nhỏ nhưng nó vẫn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Có khoảng từ 5 -10 phần trăm trong số những người bệnh tiểu đường mang dạng bệnh này. Và bệnh là do hệ thống miễn nhiễm của cơ thể tấn công vào tuyến tụy chứ không phải do các yếu tố của cách sống.

Loại 2 – Chiếm 90 phần trăm số người được chẩn đoán mang bệnh tiểu đường. Đây là căn bệnh về cách sống mà nó là hệ quả của việc quý vị đã quan tâm đến bản thân mình như thế nào. Quý vị có thể trì hoãn hoặc ngay cả có thể ngăn chận bệnh xảy ra bằng cách năng động hơn, ăn uống lành mạnh, xuống cân, duy trì trọng lượng cơ thể tốt và khỏe cho quý vị.

Loại 3 hay còn gọi là tiểu đường thai kỳ- đây là một dạng tiểu đường xảy ra cho một số phụ nữ vào giai đoạn cuối của thai kỳ và sẽ hết sau khi sanh em bé.

info Tìm thuốc nhanh dịch từ website http://www.diabetes.ca/