Vai trò và tác dụng của Vitamin B6 với cơ thể

Vitamin B6 (Pyridoxine ) góp một vai trò trong đề kháng ung thư và hỗ trợ chống xơ cứng động mạch. có Tác dụng duy trì lượng đường huyết trong máu ổn định; giúp bảo vệ tim mạch, tăng cường hệ miễn dịch và duy trì chức năng não khỏe mạnh.

Vitamin B6
Vitamin B6

Khi bị thiếu vitamin B6, có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu nguyên bào sắt, viêm dây thần kinh ngoại vi, viêm da tăng bã nhờn, và tình trạng khô nứt môi. Vì vậy, khi bị thiếu hụt do dinh dưỡng, hoặc nhu cầu cơ thể tăng, cần bổ sung thêm vitamin B6.

Vitamin B6 (pyridoxine) là một loại vitamin nhóm B. Tuy chỉ cần một lượng nhỏ, nhưng lại rất quan trọng đối với cơ thể. Ở trẻ em, nhu cầu hàng ngày khoảng 0,3 – 2mg, người lớn từ 1,6 – 2mg và người mang thai hoặc cho con bú là 2,1 – 2,2mg. Nếu chế độ ăn uống hàng ngày đầy đủ thì hiếm gặp tình trạng thiếu hụt vitamin B6, nhưng có thể xảy ra trong trường hợp rối loạn hấp thu, rối loạn chuyển hóa bẩm sinh hoặc rối loạn do thuốc gây nên (dùng thuốc chống lao isoniazid hoặc uống thuốc tránh thai…).

Các loại đậu, trứng, cá… giàu vitamin B6.

Với các trường hợp sau đây: nghiện rượu, bị bỏng, suy tim sung huyết, sốt kéo dài, cắt bỏ dạ dày, lọc máu, cường tuyến giáp, nhiễm khuẩn, bệnh đường ruột (như tiêu chảy, viêm ruột), kém hấp thu liên quan đến bệnh về gan – mật cần phải bổ sung vitamin B6.

Nếu cơ thể bị thủy thũng (sưng do nước) thì sử dụng pyridoxine sẽ có lợi. Nó còn cần thiết cho quá trình sản xuất hydrochlorid acid (HCl) và sự hấp thụ chất béo và protein.

Hội chứng ống cổ tay cũng liên quan tới sự thiếu hụt Vitamin B6 Tất cả nguồn thực phẩm đều cung cấp Vitamin B6; tuy nhiên, các thực phẩm sau có lượng cao: men bia, cà rốt, gà, trứng, cá , thịt, đậu, rau bina, hạt hướng dương, quả óc chó (walnuts). Các nguồn khác bao gồm bơ, chuối, đậu, bông cải xanh, gạo nâu, cải bắp. Cỏ linh lăng cũng có chứa Vitamin B6.

Vitamin B6 còn được dùng điều trị nhiễm độc isoniazid. Một số trẻ sơ sinh biểu hiện hội chứng lệ thuộc pyridoxin (vitamin B6) có tính di truyền. Nguyên nhân chưa được biết rõ nhưng trẻ có dấu hiệu quấy khóc nhiều và có cơn run giật kiểu động kinh. Trong trường hợp này, dùng vitamin B6 trong tuần đầu sau đẻ để phòng thiếu máu và chậm phát triển ở trẻ.

Cần lưu ý, các tác dụng phụ của thuốc có thể xảy ra như buồn nôn, nôn (ít gặp). Khi dùng liều cao (200 mg/ngày) và dài ngày (trên 2 tháng) có thể gây bệnh thần kinh ngoại vi nặng, tiến triển từ dáng đi không vững và tê cóng bàn chân đến tê cóng và vụng về bàn tay. Tình trạng này có thể hồi phục khi ngừng thuốc, nhưng ít nhiều vẫn để lại di chứng. Vì vậy, trong những trường hợp này cần có sự theo dõi của bác sĩ và người bệnh cần biết để phát hiện những triệu chứng trên, kịp thời thông báo cho bác sĩ biết để được xử trí thích hợp.

Đối với người mang thai, người cho con bú có nhu cầu tăng về mọi vitamin, nên bổ sung các vitamin bằng chế độ ăn. Tuy nhiên, nhiều thầy thuốc vẫn khuyên dùng thêm hỗn hợp các vitamin (trong đó có vitamin B6) và muối khoáng, nhất là với người mang thai kém ăn hoặc có nguy cơ thiếu hụt cao (đa thai, nghiện hút thuốc lá, rượu, ma túy). Nhưng cần dùng theo chỉ định của bác sĩ, vì nếu dùng với lượng quá thừa hỗn hợp các vitamin và muối khoáng có thể lại gây hại cho cả mẹ và thai nhi.

 

 

Comments