Vitamin C làm giảm nồng độ acid uric máu ?

Các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng vitamin C làm tăng đào thải acid uric qua niệu, tuy nhiên họ không đánh giá liệu vitamin C có làm giảm nồng độ acid uric máu không ? 

Lợi ích của bổ sung vitamin C đường uống đã được chứng minh. Một phân tích gộp đã chọn ra 13 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả bổ sung vitamin C hàm lương là 500mg/ngày và thời gian thử nghiệm trung bình là 30 ngày đối với nồng độ acid uric máu. Kết quả đã cho thấy vitamin C làm giảm đáng kể nồng độ acid uric máu trong 8 thử nghiệm.
Lợi ích của bổ sung vitamin C đường uống đã được chứng minh. Một phân tích gộp đã chọn ra 13 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả bổ sung vitamin C hàm lương là 500mg/ngày và thời gian thử nghiệm trung bình là 30 ngày đối với nồng độ acid uric máu. Kết quả đã cho thấy vitamin C làm giảm đáng kể nồng độ acid uric máu trong 8 thử nghiệm.

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên và đánh giá so sánh giữa 2 nhóm sử dụng vitamin C (500 mg/ngày) và nhóm giả dược trong vòng 2 tháng.

Kết quả: Sau 2 tháng, nhóm dùng vitamin C 500 mg/ngày có nồng độ acid uric máu giảm 0,5 mg /dl, trong khi đó nhóm giả dược không thay đổi đáng kể. Trong các phân nhóm về độ tuổi, giới tính, chỉ số BMI, bệnh mãn tính, chủng tộc, sử dụng thuốc lợi tiểu, và tứ phân vị của nồng độ acid uric đều có tác dụng giảm nồng độ acid uric máu. So sánh với giả dược, vitamin C có tác dụng tăng lọc cầu thận.

Kết luận: Bổ sung 500 mg vitamin C 500 mỗi ngày, duy trì trong 2 tháng để làm giảm acid uric trong máu do đó vitamin C có tác dụng ngăn ngừa, kiểm soát bệnh gút và các bệnh liên quan đến urate.

Vitamin C là một vi chất dinh dưỡng thiết yếu tham gia vào một số phản ứng enzyme quan trọng. Nó cũng có tác dụng chống oxy hóa các gốc tự do và các loại phản ứng oxy và nitơ. Vitamin C có nhiều tác dụng như chống cảm lạnh thông thường, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh lão hóa khác.

Nghiên cứu của Gao cho biết có mối liên quan nghịch đảo giữa khẩu phần vitamin C hàng ngày với nồng độ acid uric máu ở nhóm đối tượng tăng acid uric máu đơn thuần không kèm theo tăng huyết áp và béo phì . Một số nghiên cứu thử nghiệm đã cho thấy bổ sung vitamin C đường uống cũng giúp giảm acid uric máu.

Các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng vitamin C có tác dụng tăng đào thải acid uric, do đó làm giảm nồng độ acid uric máu. Tuy nhiên những nghiên cứu này đều thực hiện quy mô nhỏ, trong thời gian ngắn và sử dụng vitamin C liều cao (1 lần uống 3-12 g trong khoảng vài ngày). Nếu có bằng chứng vitamin C giảm nồng độ acid uric trong máu, thì vitamin C có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát bệnh gút và các bệnh liên quan đến urat. Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu nào công bố về kết quả trên.

Chúng tôi thiết kế thí nghiệm phân tích ảnh hưởng vitamin C và vitamin E trong trong peroxidation lipid. Các nghiên cứu trước đó chưa đánh giá ảnh hưởng vitamin E tới acid uric máu và bởi vì không. Bởi vì trước đó không có phân tích ảnh hưởng của vitamin E và tương tác vitamin E và vitamin C ảnh hưởng tới nồng độ acid uric máu.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Dự thảo nghiên cứu này được thông qua ban giám đốc viện Johns Hopkins. Cá nhân tham gia được đồng ý bằng văn bản trước khi thực hiện nghiên cứu.

Đánh giá chung: 184 người trưởng thành, không hút thuốc (khu vực đô thị Baltimore, Maryland) được chọn ngẫu nhiên tham gia nghiên cứu.

Yêu cầu:

– Không tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động 1 giờ/ 1 ngày.

– Không uống quá 14 chén mỗi tuần

– Không bổ sung vitamin khác trong vòng 2 tháng.

Tiến hành thử nghiệm: Những người tham gia cung cấp dữ liệu cơ bản, bao gồm mẫu máu (được lấy sau khi nhịn ăn12 h) và một số câu hỏi về thực ăn hàng ngày. Người đủ điều kiện được phân ngẫu nhiên 1 trong 4 nhóm sau:

Nhóm I: giả dược (dicalcium phosphate 380mg/ngày và dầu đậu tương 500 mg/ngày)

Nhóm II: Vitamin C và giả dược (500 mg ascorbate / ngày và dầu đậu tương500 mg / ngày)

Nhóm 3: Vitamin E và giả dược (400 IU RRR-Tocopheryl acetate / ngày và dicalcium phosphate 380 mg / ngày)

Nhóm 4: Vitamin C và vitamin E (500 mg ascorbate / ngày và 400 IU RRR – Tocopheryl acetate / ngày).

Người tham gia được hướng dẫn sử dụng các vitamin C, vitamin E, giả dược mỗi ngày, và để tránh dùng thêm các sản phẩm khác trong thời gian tham gia nghiên cứu. Đánh giá kết quả dựa vào định lượng acid uric và creatinine máu.

Phân tích thông kê: So sánh sự khác nhau giữa nhóm giả dược và vitamin C bằng test –t hoặc test – Wilcoxon cho các biến liên tục và test chi-square cho biến phân loại. Đối với mỗi biến đầu ra, đều phân tích hồi quy để đánh giá ảnh hưởng của vitamin C đến nồng độ acid uric trong máu. Các nhóm thứ cấp được phân tích hồi quy tuyến tính theo độ tuổi (so với dưới độ tuổi trung bình 62), giới tính, chủng tộc (da trắng so với người Mỹ gốc Phi), chỉ số cân nặng (BMI) (25 so với 25 kg/m2), bệnh mãn tính ( so sánh người mắc bệnh hoặc không mắc bệnh cao huyết áp, đái tháo đường, và hoặc cholesterol cao), sử dụng thuốc lợi tiểu (có hay không), tứ phân vị của đường nền nồng độ axit uric ( < 4,2 mg/dl; 4,2-5,0 mg/dl; 5,0 – 6,4 mg/dl; >6,4 mg/dl), tứ phân vị của nồng độ axit ascorbic (< 52,8 mol/l; 52,8- 61,9 ;61,9 – 72,7 mol / lít), và tăng acid uric (so sánh với nồng độ acid uric máu > 7 mg /dl và nhóm < 7mg/dl).

KT QUẢ

Trong số 318 cá nhân được kiểm tra, 184 người được chọn ngẫu nhiên đưa vào trong nghiên cứu. Đánh giá các yếu tố cơ bản và lượng protein ăn vào, thực phẩm giàu purine, và các sản phẩm sữa là tương tự nhau trong nhóm giả dược và nhóm dùng vitamin C, trừ một tỷ lệ người Mỹ gốc Phi trong nhóm giả dược cao hơn nhóm vitamin C (Bảng 1). Nam giới có nồng độ acid uric cao hơn phụ nữ (Nam giới 5,9 ± 1,2 mg/dl so với nữ giới 4,6 ± 1,4mg/dl; P< 0,0001). Người có bệnh mãn tính (5,4 ± 1,3 mg/dl) có nồng độ axit uric cao hơn so với người không có bệnh mãn tính (4,7 ± 1,4 mg/dl).

Các đối tượng tham gia được theo dõi và có ý thức tuân thủ dùng thuốc và không có sự khác biệt giữa các nhóm. 92% đối tượng hoàn thành 2 tháng nghiên cứu, và 93% đối tượng uống hơn 90% thuốc nghiên cứu. Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, nhóm bổ sung vitamin C có nồng độ acid ascorbic tăng ý nghĩa.

Vitamin E cũng không gây ảnh hưởng đến nồng độ acid uric máu và cũng không có ảnh hưởng tương tác giữa vitamin C và vitamin E. Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, nồng độ acid uric trong máu giảm đáng kể trong nhóm bổ sung vitamin C nhưng không thay đổi trong nhóm giả dược (P<0,0001) (Bảng 2). Kết quả trên cũng không thay đổi khi điều chỉnh tuổi tác, giới tính, và nồng độ acid ascorbic (vitamin C) và acid uric trong máu.Nồng độ acid uric trong máu thay đổi tỷ lệ nghịch với nồng độ acid uric trong máu. GFR (mức lọc cầu thận) tăng trong nhóm vitamin C.

Cơ chế giảm acid uric của vitamin C

+ Tăng mức lọc cầu thận và/ hoặc cạnh tranh tái hấp thu tại ống lượn gần. Vitamin C và acid uric đều cùng tái hấp thu theo cơ chế trao đồi anion ở ống lượn gần.

+Tăng lọc cầu thận do tác dụng chống oxy hóa làm giảm thiếu máu cục bộ ở cầu thận và dẫn tới tăng dòng máu đến thận, giãn mạch máu và cạnh tranh tái hấp thu ions như natri và kali.

Kết luận:

Nghiên cứu này chỉ ra rằng, bổ sung 500 mg vitamin C mỗi ngày, duy trì trong 2 tháng có tác dụng giảm nồng độ acid uric. Do đó, vitamin C có lợi trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh gút.

(DS. Thanh Tú – Tổng hợp)

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Ngọc Bảo (1995), “Một số nhận xét về khẩu phần nông dân một số tỉnh phía Bắc trong thời gian qua (1960 -1993)”, Tạp chí Vệ sinh phòng dịch, 5 (25)(5), tr. 9-13.
  2. Tạ Văn Bình (2006), Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam, các phương pháp điều trị và biện pháp dự phòng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
  1. Tạ Văn Bình (2006), Bệnh đái tháo đường – tăng glucose máu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
  2. Bộ Y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ 20, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
  1. Bộ Y tế (2006), “Hướng dẫn chế độ ăn bệnh viện” Ban hành theo Quyết định số 2879/QĐ-BYT ngày 10 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
  2. Bộ Y tế (2007), Xác định cỡ mẫu trong các nghiên cứu Y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

Comments