FLAVONOID – bảo vệ sức khỏe an toàn

Flavonoid là chất chống oxy hóa mạnh giúp cơ thể chống lại các tổn thương do sự oxy hóa và các gốc tự do, chống lại bệnh tật… Nếu lượng flavonoid cung cấp không đủ mỗi ngày, nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng lên. Cơ thể sống là bộ máy tinh vi của tạo hóa, chúng luôn hoạt động và luôn cần sự “bảo vệ” và “bảo trì” của “những người thợ “flavonoid”

Sức đề kháng trong cơ thể con người chính là sự khỏe mạnh của các bộ máy sinh học trong
cơ thể. Vai trò của Flavonoid là “những người thợ sửa chữa sinh hóa của thiên nhiên”, giúp sửa chữa lỗi cho các phản ứng chuyển hóa, các quá trình sinh tổng hợp các thành phần chất sống, hỗ trợ điều hòa nội tiết để các bộ máy của cơ thể luôn hoạt động tốt.

Nhận dạng “những người thợ sửa chữa sinh hóa của thiên nhiên” Các flavonoid, những người thợ sửa chữa sinh hóa của thiên nhiên chỉđược sinh tổng hợp tự nhiên trong
thực vật. Trong cơ thể sinh vật, nhất là con người, flavonoid là nhóm dưỡng chất rất cần thiết, không thể thiếu trong sự duy trì “sức khỏe” cho các hệ thống sinh lý và phục hồi sức khỏe chung. Chúng quan trọng như các khoáng chất và các vitamin trong cơ thể chúng ta.

Flavonoid là một nhóm các chất hóa học hữu cơ, các chất có thành phần cấu tạo chính từ các nguyên tử cacbon, hydro, nitơ và oxy trong phân tử. Có thể mô tả khung công thức phân tử của flavonoid là: C6 (vị trí A) – C3 (vị trí C) – C6 (vị trí B), chúng còn được gọi là các chất polyphenolic do các tiểu phần là cấu trúc các vòng thơm benzen (C6). Các hợp chất flavonoid có thể tự phản ứng tạo cấu trúc mạch vòng hay kết hợp với một số chất khác tạo thành các hợp chất phức tạp hơn.

Trong thực vật, flavonoid tồn tại chủ yếu ở hai dạng: dạng tự do (aglycol) và dạng liên kết với đường – glucid (glycosid), dạng tự do thưòng tan trong các dung môi hữu cơ (như ete,
aceton, cồn) nhưng không tan trong nước, dạng liên kết tan trong nước nhưng không tan trong các dung môi hữu cơ không phân cực (như aceton, benzen, cloroform). Việc tách chiết các hợp chất flavonoid đều dựa trên tính hòa tan của chúng, tuy nhiên quá
trình thực hiện không giống nhau vì sự khác biệt ở nồng độ có trong thực vật và tính hòa tan với từng dung môi khác nhau.
Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy và tinh chế được khoảng 4.000 – 5.000 hợp chất thuộc nhóm flavonoid từ các loại thực vật.

Các flavonoid phần lớn là những chất tạo các màu sắc cho thực vật, đặc biệt là màu vàng, nhất là ở hoa và trái, một số flavonoid cũng tồn tại ở dạng không màu. Các thực phẩm giàu flavonoid gồm nước cam,củ hành các loại, ngò tây, các loại đậu, trà xanh, rượu vang đỏ,…

Trong lá diếp cá, cây râu mèo chứa nhiều flavonoid
thuộc nhóm flavon, favanon, flavanol có tác dụng lợi tiểu. Ở cây trà chứa nhiều flavonoid như quercetin, rutin, myricetin và hỗn hợp các catechin có tác dụng tăng co bóp của tim và
chống oxy hóa rất mạnh.

Cây cam thảo chứa các flavonoid có trong rễ như chất liquiritin (hay liquiritirosid), isoliquiritin (hay isoliquiritirosid) và nhiều isoflavan (glabridin), isoflavon (glabron), isoflaven (glabren) có tác dụng chống viêm loét.

Flavonoid được chiết từ lá cây bạch quả chứa các chất dẫn chất của kaempferol, quercetin có tác dụng cải thiện được tuần hoàn, đặc biệt là tuần hoàn não, làm tăng trí nhớ, có tác dụng tính cực trong chữa bệnh Alzheimer, cải thiện chứng liệt dương.

Trong nụ hoa hòe chứa nhiều nhất flavonoid là rutin (rutosid) có tác dụng làm giảm tính thấm của mao mạch, củng cố sức bền thành mạch, hạn chế hiện tượng suy giảm tĩnh mạch ở người cao tuổi.

Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng các flavonoid gồm catechin, epicatechin, epicatechin gallate, epigallocatechin gallate, và proanthocyanidin, đặc biệt là epigallocatechin gallate là thành phần hoạt động mạnh nhất trong những chất chống oxy hóa.

So sánh hàm lượng flavonoid trong các loại thực vật
So sánh hàm lượng flavonoid trong các loại thực vật

Flavonoid bảo vệ cơ thể như thế nào?

Tính chất chung của flavonoid là dễ dàng cho các điện tử tự do (electron) của mình cho bất kỳ một chất oxy hóa nào đó mà chúng bắt gặp. Vì thế, các flavonoid được coi là “bảo vệ” sinh vật chống lại các quá trình oxy hóa có hại thông qua việc “gắn với” các gốc tự
do và “giam giữ” khiến chúng không còn trạng thái tự do.

Flavonoid "bắt giữ" các chất oxy hóa là gốc kim loại
Flavonoid “bắt giữ” các chất oxy hóa là gốc kim loại

Các gốc tự do có thể được tạo ra từ các hợp chất có tính oxy hóa mạnh mang gốc kim loại
(Fe) hay các hợp chất hữu cơ chứa các gốc như nitrit (NO), cacboxyl (COO), cacbonyl (CHO)… dưới tác dụng của các tác nhân gây oxy hóa như oxy phân tử (O2), tia cực tím (UV), phóngxạ, các chất xúc tác (enzyme)….

Các chất mang gốc tự do sinh ra nhiều là nguyên nhân gây tăng sự lão hóa, đột biến, bất thường sinh tế bào (ung thư) và các tác hại cho hoạt động sinh lý sinh vật (như sinh hóa máu, rối loạn tiêu hóa, gan thận…).

Ngoài ra, flavonoid còn có các tác dụng khác như chống dị ứng, kháng viêm bằng cách ngăn chặn sự phóng thích hay tổng hợp các hợp chất làm tăng tình trạng viêm và dị ứng
như histamine, serine protease, prostaglandins, leukotrien….

Chế độ dinh dưỡng đầy đủ flavonoid và hợp lý mỗi ngày trung bình cho mỗi người từ 150-200mg.

Những thực phẩm giàu Flavonoid hình ảnh minh họa
Những thực phẩm giàu Flavonoid hình ảnh minh họa

Mở rộng ứng dụng của Flavonoid

Trong dân gian từ lâu đã sử dụng những thực vật giàu flavonoid để giữ gìn sức khỏe ở dạng trà thuốc, nước trà, trà atiso,… Công nghiệp dược phát triển đã khai thác, chiết xuất lấy
flavonoid từ các loại thực vật có hàm lượng flavonoid cao như hoa hòe, vỏ cam, núc nác, hoàng cầm, lá xoài, bồ kết, ích mẫu, diệp hạ châu

Thực phẩm 4-Oxo-flavonoids Anthocyanin Catechins Biflavans
Bưởi 50
Cam 50-100
Nước cam 20-40
Táo 3-16 1-2 20-75 50-90
Nước táo 15
10-18 25
1-5 5-20 1-3
Khoai tây 85-130
Nam việt quất 5 60-200 20 100
Quả lý chua 20-400 130-400 15 50
Nho 65-140 5-30 50
Mâm xôi 300-400
Củ hành 100-2000 0-25
Ngò tây 1400
Đậu khô 10-1000
Cây xô thơm (ngài đắng) 1000-1500
Trà 5-50 10-500 100-200
Rượu vang đỏ 2-4 50-120 100-150 100-250

Một số flavonoid được chiết xuất để sản xuất các thuốc dạng uống (viên, nước, bột), các loại thuốc kháng viêm hay kem bôi ngoài da, mỹ phẩm…đã được sử dụng rộng rãi. Các sản phẩm thường ở dạng kết hợp nhiều loại flavonoid từ vài loại thực vật với nhau.

TS. Nguyễn Đặng Dũng, giảng viên Học viện Quân y (Bộ Quốc phòng) đã nghiên cứu tác dụng của flavonoid trong lá cây chay để bảo quản mô thận và ức chế phản ứng thải ghép
trên thực nghiệm, tạo cơ sở khoa học sản xuất ra các thuốc mới ít độc, giá thành rẻ hơn so với thuốc nhập ngoại.

Bằng phương pháp sắc khí cột, ông đã phân lập và xác định được các chất flavonoid là kaempferol (dạng bột vô định hình, màu vàng) và ampelopsin (dạng tinh thể hình kim, màu vàng) từ lá chay. Việc ghép thận đã và đang trở thành một phương pháp điều trị
được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt việc sử dụng flavonoid như một yếu tố bảo vệ mô trong tình trạng thiếu máu đã mang lại ý nghĩa thực tiễn trong ghép tạng và trong các phẫu thuật có sử dụng thủ thuật kẹp mạch máu tạm thời.

Vừa qua, PGS.TS. Trần Thành Đạo,  giảng viên Trường Đại học Y Dược TP.HCM đã nghiên cứu tổng hợp được 100 chất flavonoid (50 chất thuộc nhóm chalcon và 50 chất thuộc nhóm flavon) từ đề tài nghiên cứu do Sở KH&CN TP. HCM quản lý; đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành thử nghiệm và thấy được tác dụng kháng viêm, chống oxy hóa của phần lớn các chất được tổng hợp (60 chất).

Đặc biệt, TS. Đạo cũng đã nghiên cứu thử nghiệm sàng lọc được 5 chất có tác dụng kháng viêm mạnh (3 chất thuộc nhóm chalcon và 2 chất thuộc nhóm flavon) trong số các chất đã tổng hợp được để tiếp tục hướng đến phát triển sản xuất các thuốc kháng viêm trong nước.

Trên thị trường dược phẩm hiện nay có nhiều loại “thuốc” flavonoid với  những tên: vitamin P, rutin, troxerutin, rutosid, rutinoside… hoặc vitamin P phối hợp với vitamin C thành các
biệt dược kép, chúng thường được chỉ định dùng trong chứng giãn mao mạch, hội chứng xuất huyết do nhiều nguyên nhân khác nhau, thấp khớp, viêm cầu thận, tăng huyết áp, quá liều các thuốc chống đông máu và quá liều salicylat, và còn dùng trong điều trị và dự phòng bệnh chảy máu dưới da (bệnh scorbut)

Comments

SHARE