Bảng thuốc nên tránh hoặc dùng thận trọng trong thời kỳ mang thai.

ThuốcKhuyến cáo
AbacavirĐộc tính trong nghiên cứu trên động vật.
AcetazolamidKhông được dùng để điều trị tăng huyết áp ở người mang thai. Ba tháng đầu thai kỳ: Tránh dùng (độc tính trong nghiên cứu trên động vật).
Acenocoumarol (Sintrom)Tất cả các giai đoạn của thai kỳ. Dị dạng bẩm sinh, chảy máu bào thai và trẻ sơ sinh.
AciclovirChưa biết các tác hại; ít hấp thu đối với các chế phẩm dùng ngoài.
Acid acetylsalicylic (aspirin)Ba tháng đầu của thai kỳ: Làm suy giảm chức năng tiểu cầu và có nguy cơ chảy máu; làm chậm chuyển dạ, kéo dài thời gian đau đẻ và tăng mất máu; tránh dùng với liều giảm đau, nếu có thể, trong những tuần cuối của thai kỳ (liều thấp có thể không  gây hại); với liều cao có thể gây đóng sớm ống động mạch của bào thai trong tử cung và có thể gây tăng áp lực động mạch phổi kéo dài cho trẻ sơ sinh; vàng da nhân não trên trẻ sơ sinh bị chứng vàng da.
Acid alendronic (biphosphonat)Nhà sản xuất khuyến cáo nên tránh dung
Acid ascorbic (vitamin C)Vitamin C liều cao có thể làm tăng nhu cầu về vitamin C ở thai nhi dẫn đến bệnh scorbut ở trẻ sơ sinh.
Acid cromoglicicXem natri cromoglicat
Acid fusidic (natri fusidat)Chưa rõ có gây độc không, nhà sản xuất khuyên chỉ nên dùng khi thật cần thiết, lợi nhiều hơn hại
Acid nalidixicTất cả các giai đoạn của thai kỳ: tránh dung - bệnh khớp khi nghiên cứu trên động vật; sử dụng các thuốc thay thế an toàn hơn nếu có
Acid tranexamicKhông có chứng cứ về gây quái thai khi nghiên cứu ở động vật, nhà sản xuất khuyên chỉ dùng khi lợi ích cho mẹ vượt hẳn nguy cơ cho thai - thuốc qua nhau thai
Acid valproicBa tháng đầu và ba tháng cuối thai kỳ: tăng nguy cơ khuyết tật ống thần kinh (tư vấn và sàng lọc-bổ sung acid folic có khả năng làm giảm nguy cơ); nguy cơ gây quái thai lớn hơn nếu dùng từ 2 thuốc chống động kinh trở lên; chảy máu sơ sinh (liên quan đến giảm fibrin máu) và nhiễm độc gan sơ sinh; xem mục 5.1 (valproat natri)
Adefovir dipivoxilCó độc tính khi nghiên cứu ở động vật - Nhà sản xuất khuyên chỉ nên dùng khi lợi ích cho mẹ vượt hẳn nguy cơ cho thai; phải dùng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong khi dùng thuốc
AlbendazolChống chỉ định trong nhiễm sán dây; xem mục 6.1.1.1 Ba tháng đầu thai kỳ: Tránh dùng khi nhiễm giun tròn; xem mục 6.1.1.2
AlcuroniumChưa qua được nhau thai với lượng đáng kể; chỉ sử dụng nếu lợi ích vượt hơn rủi ro.
Alimemazin (trimeprazin)Không có chứng cứ gây quái thai
AlopurinolKhông có báo cáo về độc tính; chỉ sử dụng khi không có thuốc an toàn hơn và bệnh gây nguy cơ cho cả mẹ lẫn con
AmiloridKhông sử dụng để điều trị tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai
AminophylinBa tháng cuối thai kỳ: Kích thích và ngừng thở ở trẻ sơ sinh đã được báo cáo.
AmitriptylinCác nhà sản xuất khuyến cáo tránh dùng trừ khi thật cần thiết, đặc biệt ở ba tháng đầu và ba tháng cuối thai kỳ
AmlodipinChưa có đủ thông tin. Các nhà sản xuất khuyến cáo tránh dùng.
AmodiaquinChỉ dùng nếu không có thuốc nào an toàn Hơn
AmoxicilinChưa biết rõ tác hại
Amoxicilin + Acid clavulanicChưa biết rõ tác hại
Amphotericin BChưa biết rõ tác hại, chỉ dùng nếu lợi ích lớn hơn rủi ro
AmpicilinChưa biết tác hại
ArtemetherTránh dùng trong ba tháng đầu thai kỳ
Artemether + LumefantrinTránh dùng. Độc tính nghiên cứu trên động vật cùng artemether
ArtesunatBa tháng đầu thai kỳ: Tránh dùng
AsparaginasTránh dùng. Xem mục 8.2
AtenololCó thể gây chậm phát triển trong tử cung, hạ glucose - huyết ở trẻ sơ sinh và nhịp tim chậm; rủi ro lớn hơn trong tăng huyết áp nặng; Xem mục 12.3
AlteplaseXem streptokinase
AtropinKhông biết rõ tác hại
AlverinDùng phải thận trọng khi mang thai
AmantadinTránh dùng, độc tính khi nghiên cứu trên động vật
AmikacinXem aminoglycosid
AminoglycosidTổn thương dây thần kinh thính giác hoặc tiền đình. Nguy cơ cao nhất với strepto- mycin; nguy cơ có thể thấp hơn nếu dùng gentamicin và tobramycin, nhưng tránh dùng trừ khi thật cần (nếu dùng, phải nhất thiết giám sát nồng độ aminoglycosid trong huyết thanh)
Amiodaron3 tháng thứ 2 và thứ 3 thai kỳ: nguy cơ có khả năng bướu giáp ở trẻ sơ sinh, chỉ dùng khi không có thuốc thay thế
AmlodipinCó thể ức chế chuyển dạ đẻ; theo nhà sản xuất, dilthiazem và một số dihydropyridin (amlodipin là dẫn chất của dihydropyridin) có thể gây quái thai ở động vật, nhưng cần phải cân nhắc giữa nguy cơ đối với thai nhi và nguy cơ tăng huyết áp không được kiềm chế ở người mẹ
AtorvastatinTránh dùng - Đã có thông báo dị dạng bẩm sinh; giảm tổng hợp cholesterol có thể tác động đến phát triển của thai nhi
AzathioprinCác bệnh nhân được ghép tạng không được ngừng sử dụng azathioprin khi có thai; sử dụng trên phụ nữ mang thai phải được theo dõi tại cơ sở chuyên khoa; không có bằng chứng azathioprin gây quái thai
AzithromycinChỉ sử dụng khi lợi ích lớn hơn rủi ro
Bạc sulfadiazinBa tháng cuối thai kỳ: tan máu và methe- moglobin - huyết ở trẻ sơ sinh; Nguy cơ tăng vàng nhân não xuất hiện ở thai nhi chưa được tìm thấy.
BeclometasonLợi ích điều trị lớn hơn rủi ro, ví dụ trong bệnh hen
Benzathin  benzylpenicilinKhông biết rõ tác hại
BenzimidazolTránh dùng ba tháng đầu thai kỳ.
BenzylpenicilinKhông biết rõ tác hại
BetamethasonLợi ích điều trị lớn hơn rủi ro, ví dụ trong bệnh hen
BiperidenKhông biết có gây độc hại cho thai nhi không. Chỉ dùng khi thật cần thiết
BisacodylChưa thấy nguy cơ
Bismuth subcitratChưa có nghiên cứu về tác hại đối với thai nhi
BleomycinTránh dùng (gây quái thai và ung thư khi nghiên cứu trên động vật); Xem mục 8.2
BupivacainBa tháng cuối thai kỳ: Với liều cao, suy hô hấp, giảm trương lực cơ và nhịp tim chậm ở trẻ sơ sinh sau khi phong bế vùng cạnh cổ tử cung hoặc ngoài màng cứng
Calci folinatNhà sản xuất khuyến cáo chỉ dùng khi lợi ích lớn hơn rủi ro
CalcipotriolNhà sản xuất khuyên tránh dùng nếu có thể
CalcitriolNhà sản xuất khuyên tránh dùng calcitriol bôi tại chỗ. Liều cao vitamin D uống hoặc tiêm gây quái thai ở động vật nhưng khi dùng liều điều trị ít khả năng gây độc
CaptoprilTránh dùng, có thể tác động xấu đến huyết áp về chức năng thận ở thai nhi và trẻ sơ sinh, cũng có thể gây khuyết tật ở sọ và ít nước ối; độc tính khi nghiên cứu ở động vật
CarbamazepinBa tháng đầu thai kỳ: nguy cơ quái thai, kể cả nguy cơ tăng rủi ro về các khuyết tật ống thần kinh (tư vấn, sàng lọc và khuyến cáo bổ sung folat thích hợp, ví dụ 5 mg hàng ngày); nguy cơ gây quái thai lớn hơn nếu dùng nhiều hơn một loại thuốc chống động kinh; xem Mục 5. Ba tháng cuối thai kỳ: có thể gây thiếu vita- min K và nguy cơ chảy máu sơ sinh nếu không tiêm vitamin K khi đẻ, cần theo dõi chặt chẽ dấu hiệu chảy máu của trẻ sơ sinh.
CarboplatinTránh dùng (gây quái thai và độc cho phôi khi nghiên cứu ở động vật)
CefaclorKhông biết có gây độc không
CefadroxilKhông biết có gây độc không
CefazolinKhông độc hại
CefotaximChưa biết tác hại
CefpiromChưa thấy có nguy cơ gây quái thai ở động vật
CefradinThường được coi là an toàn
CeftazidimKhông biết tác hại
CeftriaxonKhông biết tác hại
CefuroximChưa biết có độc hại không
CetirizinXem alimemazin
Ciclosporinít có kinh nghiệm sử dụng ciclosporin ở người mang thai, nhưng không gây hại hơn azathioprin; sử dụng trên người mang thai phải được theo dõi ở các cơ sở chuyên khoa.
CimetidinNhà sản xuất khuyên tránh dùng trừ khi thật cần.
CiprofloxacinTránh dùng trong suốt thai kỳ; gây các bệnh về khớp khi nghiên cứu trên động vật; nên sử dụng các thuốc an toàn hơn nếu có.
CisplatinTránh dùng (gây quái thai và độc khi nghiên cứu trên động vật).
ClarithromycinNhà sản xuất khuyên tránh dùng trừ khi tiềm năng lợi ích điều trị lớn hơn rủi ro
ClindamycinKhông rõ tác hại
ClomifenCó khả năng tác động trên sự phát triển bào thai
ClomipraminNhà sản xuất khuyến cáo tránh dùng, trừ khi cần thiết, đặc biệt trong ba tháng đầu và ba tháng cuối thai kỳ.
ClonazepamTránh dùng thường xuyên (nguy cơ hội chứng cai thuốc sơ sinh); chỉ sử dụng khi có chỉ định rõ ràng, ví dụ để khống chế cơn động kinh (liều cao cuối thai kỳ hoặc trong khi chuyển dạ có thể gây hạ nhiệt, giảm trương lực cơ và suy hô hấp ở trẻ sơ sinh).
ClorambucilTránh dùng; phải sử dụng các thuốc tránh thai có hiệu quả khi chỉ định clorambucil cho nam giới và phụ nữ; xem mục 8.2
CloramphenicolBa tháng cuối thai kỳ: Hội chứng “xám” ở trẻ sơ sinh
ClormethinTránh dùng; xem Mục 8.2
CloroquinBa tháng đầu và ba tháng cuối thai kỳ: lợi ích dự phòng và điều trị lớn hơn rủi ro; xem thêm Mục 6.6.4
ClorphenaminKhông có bằng chứng gây quái thai
ClorpromazinBa tháng cuối thai kỳ: đôi khi có các báo cáo về tác dụng ngoại tháp ở trẻ sơ sinh 
Clotrimazol(Dùng tại chỗ) chưa có đủ số liệu. Trong 3 tháng đầu, chỉ dùng khi thật cần thiết
CloxacilinKhông biết rõ tác hại
CodeinBa tháng cuối thai kỳ: Suy hô hấp trẻ sơ sinh; hội chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh có mẹ nghiện codein; ứ đọng ở dạ dày và nguy cơ viêm phổi do hít phải chất nôn khi bà mẹ chuyển dạ
ColchicinTránh dùng - gây quái thai khi nghiên cứu trên động vật.
Thuốc uống tránh thaiBằng chứng dịch tễ học cho thấy không có tác hại trên bào thai
CyclophosphamidTránh dùng (sử dụng thuốc tránh thai có hiệu quả trong khi sử dụng và ít nhất 3 tháng sau khi sử dụng cho nam và nữ); xem Mục 8.2
CytarabinTránh dùng (gây quái thai trên động vật nghiên cứu); xem Mục 8.2
DacarbazinTránh dùng (gây ung thư và quái thai trên động vật nghiên cứu); bảo đảm tránh thai có hiệu quả trong khi dùng thuốc và ít nhất 6 tháng sau khi điều trị cho cả nam và nữ; xem Mục 8.2
DactinomycinTránh dùng (gây quái thai trên động vật nghiên cứu)
DapsonBa tháng cuối thai kỳ: Tan máu và methe- moglobin - huyết ở trẻ sơ sinh; cho bà mẹ uống 5 mg acid folic hàng ngày
DaunorubicinTránh dùng (gây quái thai và ung thư ở động vật nghiên cứu); xem Mục 8.2
DeferoxaminTác dụng gây quái thai ở động vật nghiên cứu; nhà sản xuất khuyến cáo chỉ sử dụng khi lợi ích lớn hơn rủi ro
DesmopressinTrong 3 tháng cuối, tác dụng gây yếu gây co bóp tử cung (trợ đẻ), tăng nguy cơ tiền sản giật
DexamethasonTrong điều trị hen, lợi ích lớn hơn rủi ro; nguy cơ làm bào thai chậm phát triển trong tử cung khi điều trị toàn thân lặp lại nhiều lần hoặc kéo dài; dự phòng corticoid cần thiết cho bà mẹ trong khi chuyển dạ; cần theo dõi chặt chẽ khi có hiện tượng giữ nước
DextranTránh dùng - đã có những thông báo vì phản ứng phản vệ ở mẹ gây thiếu oxy, tổn thương thần kinh và tử vong cho thai nhi Trong 3 tháng cuối, ức chế hô hấp thai nhi, hội chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh có mẹ nghiện thuốc phiện; ứ đọng ở dạ dày và có nguy cơ viêm phổi do hít phải chất nôn ở người mẹ trong thời gian chuyển dạ đẻ. Xem tramadol
DextromethorphanTránh dùng thường xuyên (nguy cơ có triệu chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh)
DiazepamChỉ dùng khi có chỉ định rõ ràng như để khống chế cơn co giật (liều cao cuối thai kỳ hoặc khi chuyển dạ có thể gây hạ thân nhiệt, giảm trương lực cơ và ức chế hô hấp ở trẻ sơ sinh).
DiclofenacPhần lớn các nhà sản xuất khuyên không nên dùng (hoặc tránh dùng trừ khi tiềm năng lợi ích điều trị vượt rủi ro). Trong 3 tháng cuối, nếu dùng đều đặn, ống động mạch bào thai đóng sớm trong tử cung và có thể có tăng áp lực phổi kéo dài ở trẻ sơ sinh. Chuyển dạ bắt đầu muộn và kéo dài 
DidanosinTránh dùng nếu có thể được ở ba tháng đầu thai kỳ; tăng nguy cơ nhiễm acid lactic và nhiễm mỡ; xem Mục 6.7.
DiethylcarbamazinTránh dùng: hoãn dùng cho đến sau khi đẻ
DigoxinCần điều chỉnh liều
DiloxanidTrì hoãn điều trị cho đến sau ba tháng đầu của thai kỳ
DiltiazemTránh dùng
DithranolCó thể hấp thu toàn thân; chưa biết có độc hại không
DobutaminChưa nghiên cứu đầy đủ, chỉ dùng khi thật cần.
DomperidonNhà sản xuất khuyên tránh dùng
DopaminChưa biết có độc hại không
DoxorubicinTránh dùng (gây quái thai và gây độc trong nghiên cứu trên động vật); với chế phẩm liposom phải dùng thuốc tránh thai có hiệu quả trong khi dùng thuốc và ít nhất 6 tháng sau cho cả nam và nữ; xem Mục 8.2
DoxycyclinBa tháng đầu thai kỳ: Tác động xấu đến phát triển bộ xương trên động vật nghiên cứu. Ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ: biến đổi màu men răng; nhiễm độc gan cho mẹ với liều cao
EfavirenzTránh dùng (nguy cơ cao gây quái thai); xem Mục 6.5.2
EnalaprilTrong suốt thời kỳ mang thai: Tránh dùng; ảnh hưởng bất lợi trên huyết áp và chức năng thận của bào thai và trẻ sơ sinh, có thể gây khuyết tật sọ và chứng ít dịch ối; độc tính trên động vật nghiên cứu
EphedrinTăng tần số tim bào thai được báo cáo khi dùng ephedrin đường tiêm
Epinephrin (Adrenalin)Qua nhau thai, nhưng không gây dị dạng ở thai nhi
ErgocalciferolLiều cao có thể gây quái thai trên động vật thí nghiệm, nhưng liều điều trị không gây tác hại
ErgometrinTránh dùng trong thời kỳ mang thai (gây co cứng cơ tử cung)
ErgotaminTrong suốt thai kỳ: tác dụng co thắt tử cung của thai phụ
ErythromycinKhông biết tác hại
EthambutolKhông biết tác hại
Ether, thuốc mêBa tháng cuối thai kỳ: suy hô hấp trẻ sơ sinh
EthinylestradiolCác bằng chứng dịch tễ học cho thấy không gây tác hại đối với bào thai
EthosuximidBa tháng đầu thai kỳ: Có thể gây quái thai
EtoposidTránh dùng (gây quái thai trong các nghiên cứu trên động vật); xem Mục 8.2
FenofibratĐộc tính cho phôi khi nghiên cứu ở động vật - Nhà sản xuất khuyên tránh dùng
FentanylXem Dextromethorphan
FluconazolTránh dùng (nhiều loại dị tật bẩm sinh được báo cáo khi dùng liều cao trong thời gian dài)
FlucytosinGây quái thai trên động vật nghiên cứu; nhà sản xuất khuyến cáo chỉ dùng khi lợi ích điều trị lớn hơn rủi ro.
FluorouracilTránh dùng (gây quái thai); xem Mục 8.2
FluphenazinBa tháng cuối thai kỳ: Tác dụng ngoại tháp ở trẻ sơ sinh đôi khi được báo cáo
FurosemidKhông dùng để điều trị tăng huyết áp ở người mang thai
GemfibrozilNhà sản xuất khuyên tránh dùng.
GentamicinBa tháng đầu và ba tháng giữa thai kỳ: có hại đối với thần kinh thính giác và tiền đình, rủi ro rất thấp đối với gentamicin, nhưng nên tránh dùng nếu không thật cần (nếu dùng, cần phải theo dõi nồng độ gen- tamicin trong huyết tương)
GlibenclamidBa tháng cuối thai kỳ: Hạ glucose - huyết ở trẻ sơ sinh; cần thay thế bằng insulin ở tất cả bệnh nhân đái tháo đường; nếu dùng thuốc đường uống phải ngừng điều trị ít nhất hai ngày trước khi đẻ 
GriseofulvinTránh dùng (độc tính với bào thai và gây quái thai ở động vật thí nghiệm); phải dùng thuốc tránh thai có hiệu quả trong thời gian dùng thuốc và ít nhất một tháng sau khi dùng thuốc (quan trọng: giảm tác dụng của các thuốc tránh thai dùng đường uống, xem Phụ lục 1); đàn ông phải tránh có con trong thời gian dùng thuốc và ít nhất 6 tháng sau khi dùng thuốc
HaloperidolBa tháng cuối thai kỳ: Tác dụng ngoại tháp ở trẻ sơ sinh đôi khi được báo cáo 
HalothanBa tháng cuối thai kỳ: Suy hô hấp trẻ sơ sinh
HeparinTrong suốt thai kỳ: Loãng xương được báo cáo sau khi dùng một thời gian dài; lọ thuốc tiêm nhiều liều có thể chứa phenylmethanol - một số nhà sản xuất khuyến cáo tránh dùng 
Hợp chất stibi (antimoni) hóa trị 5Bệnh Leishmania nội tạng nặng phải điều trị ngay không trì hoãn
HydralazinTránh dùng trong ba tháng đầu và ba tháng giữa thai kỳ; không thấy báo cáo về tác hại nghiêm trọng sau khi dùng trong ba tháng cuối thai kỳ
HydroclorothiazidKhông dùng để điều trị tăng huyết áp ở người mang thai Ba tháng cuối thai kỳ: Có thể gây giảm tiểu cầu ở trẻ sơ sinh
HydrocortisonTrong bệnh hen, lợi ích điều trị lớn hơn rủi ro; nguy cơ thai chậm phát triển trong tử cung khi điều trị toàn thân kéo dài và lặp lại; dự phòng corticoid cần thiết cho bà mẹ khi chuyển dạ; giám sát chặt chẽ nếu có hiện tượng giữ nước
IbuprofenTránh dùng trừ khi lợi ích lớn hơn rủi ro; Ba tháng cuối thai kỳ: nếu dùng thường xuyên gây đóng sớm ống động mạch ở bào thai trong tử cung và có thể gây ra tăng áp lực động mạch phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh
IdoxuridinLàm chậm và kéo dài thời gian chuyển dạ
Imipenem + CilastatinGây quái thai trên động vật thí nghiệm Chỉ sử dụng nếu lợi ích lớn hơn rủi ro (độc tính trên động vật nghiên cứu)
IndapamidKhông dùng để điều trị tăng huyết áp ở người mang thai.
IndinavirTránh sử dụng, nếu có thể, trong ba tháng cuối thai kỳ; trên lý thuyết có nguy cơ tăng bilirubin máu và sỏi thận ở trẻ sơ sinh nếu dùng lúc cuối thai kỳ; xem Mục 6.7.2
InsulinTrong suốt thai kỳ: Phải được thầy thuốc lâm sàng có kinh nghiệm thường xuyên đánh giá nhu cầu insulin
IodBa tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ: bướu cổ và thiểu năng tuyến giáp sơ sinh
IsoniazidKhông rõ tác hại
IvermectinHoãn dùng cho đến sau khi đẻ
Kali iodidBa tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ: bướu cổ và thiểu năng tuyến giáp sơ sinh
KetaminBa tháng cuối thai kỳ: suy hô hấp sơ sinh
LamivudinTránh dùng, nếu có thể, trong ba tháng đầu thai kỳ; lợi ích điều trị được coi là lớn hơn rủi ro trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ; xem Mục 6.7.2
LevamisolBa tháng cuối thai kỳ: tránh dùng
Levodopa + CarbidopaĐộc tính khi nghiên cứu trên động vật
LevonorgestrelTrong dạng thuốc uống tránh thai, các bằng chứng dịch tễ học cho thấy không có tác hại trên bào thai
LevothyroxinCần giám sát nồng độ thyrotrophin huyết thanh của mẹ để điều chỉnh liều khi cần thiết
LincomycinThuốc đi qua nhau thai, nhưng không gây tác dụng phụ cho trẻ sơ sinh
LidocainBa tháng cuối thai kỳ: Với liều cao, suy hô hấp sơ sinh, giảm trương lực cơ và nhịp tim chậm sau khi phong bế vùng cạnh cổ tử cung và ngoài màng cứng
LisinoprilXem captopril
LithiBa tháng đầu thai kỳ: Tránh dùng nếu có thể (nguy cơ quái thai, kể cả các dị dạng về tim). Ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ: phải tăng liều (nhưng khi thai ra phải trở lại liều thông thường ngay); cần giám sát chặt chẽ nồng độ khuyến cáo lithi trong máu (nguy cơ độc ở trẻ sơ sinh)
LoperamidNhà sản xuất khuyên tránh dùng - Hiện nay chưa có thông tin
Lopinavir + RitonavirTránh dùng nếu có thể được trong ba tháng đầu thai kỳ; tránh dùng dung dịch uống do hàm lượng propylen glycol cao; xem Mục 6.7.2
LoratadinĐộc cho phôi ở động vật - Xem thêm alimemazin
Magnesi sulfatBa tháng cuối thai kỳ: Không biết tác hại khi dùng đường tĩnh mạch trong thời gian ngắn trong sản giật, nhưng liều cao có thể gây suy hô hấp sơ sinh 
MazipredonXem prednisolon
MebendazolĐộc tính khi nghiên cứu ở động vật. Chống chỉ định trong nhiễm sán dây; xem Ba tháng đầu thai kỳ: Tránh dùng trong nhiễm giun tròn;
MedroxyprogesteronTránh dùng (dị dạng sinh dục và khuyết tật tim trên bào thai nam và nữ được báo cáo); sử dụng không thận trọng thuốc tiêm tránh thai tác dụng kéo dài medroxyprogesteron acetat ở người mang thai không chắc gây hại bào thai
MefloquinChỉ dùng khi các thuốc sốt rét khác không thích hợp; xem Dự phòng và điều trị sốt rét,
MeloxicamXem diclofenac
MercaptopurinTránh dùng (gây quái thai)
MetforminTất cả các giai đoạn của thai kỳ: Tránh dùng; thay bằng insulin trong đái tháo đường
MethotrexatTránh dùng (gây quái thai; khả năng thụ thai có thể giảm trong khi dùng thuốc nhưng có thể phục hồi); sử dụng các thuốc tránh thai có hiệu quả trong khi dùng thuốc và ít nhất 6 tháng sau cho cả nam và nữ;
MethyldopaKhông rõ tác hại
MetoclopramidKhông rõ tác hại
MetoprololHạn chế sự phát triển của thai nhi trong tử cung, hạ glucose - huyết và nhịp tim chậm ở trẻ sơ sinh; nguy cơ cao về tăng huyết áp nặng.
MetronidazolTránh dùng liều cao
MiconazolNhà sản xuất khuyên tránh dùng trừ khi thật cần thiết
MidazolamTránh dùng thường xuyên (nguy cơ trẻ sơ sinh mắc hội trứng cai thuốc); chỉ dùng khi có chỉ định rõ ràng như để khống chế cơn co giật (liều cao trong thời kỳ cuối hoặc trong lúc chuyển dạ đẻ có thể gây hạ thân nhiệt giảm trương lực cơ và ức chế hô hấp ở trẻ sơ sinh)
MinocyclinTrong 3 tháng đầu thai kỳ, tác động xấu đến phát triển hệ xương ở động vật nghiên cứu. Trong 6 tháng sau làm răng biến màu, khi tiêm liều cao gây độc gan cho mẹ
MitomycinTránh dùng (gây quái thai ở động vật nghiên cứu)
MolgramostimGây độc trên động vật nghiên cứu - Nhà sản xuất khuyên tránh dùng trừ khi tiềm năng lợi ích điều trị vượt rủi ro
MorphinBa tháng cuối thai kỳ: Suy hô hấp sơ sinh, hội chứng cai (thiếu) thuốc ở trẻ sơ sinh có mẹ nghiện morphin; dạ dày ứ đọng và nguy cơ viêm phổi do hít phải chất nôn ở mẹ trong khi chuyển dạ
NaloxonChỉ sử dụng nếu lợi ích rõ ràng so với rủi ro
Natri cromoglicatKhông biết có độc hại không
Natri nitroprusiatCó tiềm năng gây tích lũy cyanid ở thai nhi, tránh dùng kéo dài
Natri valproatTrong ba tháng đầu và cuối, tăng nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh, cũng đã có thông báo về chảy máu (do giảm fibrin máu) và độc tính gan ở trẻ sơ sinh
NelfinavirTránh dùng, nếu có thể được, trong ba tháng đầu thai kỳ; sử dụng trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ nếu lợi ích điều trị lớn hơn rõ so với rủi ro;
NeomycinXem aminoglycosid
Neomycin vàChưa có thông báo bacitracin gây quái thai.
bacitracin; BacitracinTuy vậy, không dùng trong thời kỳ mang thai
NeostigminBa tháng cuối thai kỳ: Chứng nhược cơ trẻ sơ sinh với liều cao
NevirapinTránh dùng, nếu có thể, ở ba tháng đầu thai kỳ; sử dụng ở ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ nếu lợi ích điều trị vượt rủi ro; xem Mục 6.5.2
Nhựa PodophylumTrong tất cả các giai đoạn của thai kỳ: Tránh dùng - đã có báo cáo về chết sơ sinh và gây quái thai
NiclosamidNhiễm T. solium ở người mang thai phải được điều trị ngay
NifedipinCó thể ức chế chuyển dạ, một số dihydropy- ridin có thể gây quái thai trên động vật, tuy nhiên cần cân nhắc rủi ro đối với bào thai so với rủi ro tăng huyết áp không thể kiểm soát được ở bà mẹ
NimesulidXem diclofenac
NitrofurantoinBa tháng cuối thai kỳ: Có thể gây huyết tán sơ sinh nếu dùng lúc cuối thai kỳ
Nitrogen oxydBa tháng cuối thai kỳ: Suy hô hấp trẻ sơ sinh
NorethisteronDùng liều thuốc uống tránh thai, các bằng chứng dịch tễ học cho thấy không có tác hại trên bào thai. Dùng liều lớn hơn làm nam hoá bào thai gái và các khuyết tật khác đã được báo cáo
NorfloxacinXem ofloxacin
NystatinKhông có thông tin, nhưng sự hấp thu qua đường tiêu hoá không đáng kể
OfloxacinTrong suốt thai kỳ: Tránh dùng - bệnh khớp khi nghiên cứu trên động vật; dùng thuốc khác an toàn hơn
OmeprazolChưa biết có tác hại không
OndansetronHiện nay chưa có thông tin, nhà sản xuất khuyên tránh dùng, trừ khi lợi ích vượt hẳn nguy cơ
OseltamivizNhà sản xuất khuyên tránh dùng trừ khi lợi ích vượt hẳn nguy cơ
OxamniquinNếu không đòi hỏi điều trị ngay thì hoãn điều trị sán lá Schistosoma đến sau khi đẻ;
PancuroniumNhà sản xuất khuyên tránh dùng trừ khi tiềm năng lợi ích điều trị vượt rủi ro. Hiện nay chưa có thông tin
PapaverinXem dextromethorphan
ParacetamolKhông biết rõ tác hại
PenicilaminTất cả các giai đoạn của thai kỳ: hiếm có dị tật bào thai được thông báo; tránh sử dụng khi có thể
PerindoprilXem captopril
Pethidin hydrocloridXem dextromethorphan
PhenobarbitalTrong ba tháng đầu có thể gây dị dạng bẩm sinh. Trong 3 tháng cuối, có thể gây thiếu hụt vitamin K và có nguy cơ chảy máu ở trẻ sơ sinh; nếu không cho vitamin K lúc đẻ, phải giám sát chặt chẽ trẻ sơ sinh để phát hiện dấu hiệu chảy máu
PhenoxymethylpenicilinKhông rõ tác hại
PhenytoinBa tháng đầu và ba tháng cuối thai kỳ: dị tật bẩm sinh (tư vấn sàng lọc); cần bổ sung đủ acid folic cho bà mẹ (ví dụ 5 mg acid folic mỗi ngày); nguy cơ gây quái thai lớn hơn nếu dùng nhiều hơn một thuốc chống động kinh. Có thể gây thiếu vitamin K và nguy cơ chảy máu sơ sinh; Nếu không dùng vita- min K khi đẻ cần theo dõi chặt chẽ dấu hiệu chảy máu ở trẻ sơ sinh. Cần thận trọng khi phân tích kết quả nồng độ phytomenadion huyết tương, dạng kết hợp có thể giảm nhưng dạng tự do (có tác dụng) không đổi
PhytomenadionChỉ sử dụng khi lợi ích điều trị vượt rủi ro - không có các thông tin đặc biệt
PilocarpinTránh dùng - Kích thích cơ trơn, độc tính khi nghiên cứu trên động vật
PiroxicamXem diclofenac
Polygelin (Polystyren sulfonat resin)Nhà sản xuất khuyên chỉ nên dùng khi tiềm năng lợi ích điều trị vượt rủi ro. Hiện nay chưa có thông tin
Povidon - iodBa tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ: lượng iod hấp thu có thể đủ để ảnh hưởng đến tuyến giáp của bào thai
PraziquantelNhiễm T. solium ở người mang thai phải điều trị ngay; Lợi ích điều trị sán lá Schistosoma lớn hơn rủi ro. Nếu không cần thiết điều trị ngay nhiễm sán lá, hoãn điều trị đến sau khi đẻ
PrazosinKhông có bằng chứng gây quái thai; nhà sản xuất khuyên chỉ nên sử dụng khi lợi ích điều trị vượt rủi ro.
PrednisolonLợi ích điều trị, ví dụ bệnh hen, là lớn hơn rủi ro; nguy cơ bào thai chậm phát triển trong tử cung khi điều trị toàn thân kéo dài và lặp lại; điều trị dự phòng corticoid cần thiết cho bà mẹ khi chuyển dạ
PrimaquinBa tháng cuối thai kỳ: tan máu ở trẻ sơ sinh và methemoglobin - huyết. Hoãn điều trị đến sau khi đẻ
ProcarbazinTránh dùng (gây quái thai ở nghiên cứu trên động vật và có một số báo cáo trên người);
ProguanilLợi ích phòng ngừa và điều trị lớn hơn rủi ro. Bổ sung lượng folat thích hợp cho bà mẹ
ProcainTrong 3 tháng cuối, có thể gây methemo- globin - huyết cho trẻ sơ sinh
ProcainamidNhà sản xuất khuyên tránh dùng, trừ khi lợi ích cho mẹ vượt hẳn nguy cơ cho thai
ProgesteronChưa thấy có độc hại
PromethazinKhông có bằng chứng gây quái thai
PropofolTrong 3 tháng cuối, có thể ức chế hô hấp ở trẻ sơ sinh
PropranololCó thể làm bào thai chậm phát triển trong tử cung; hạ glucose - huyết ở trẻ sơ sinh; chậm nhịp tim; nguy cơ lớn hơn nếu tăng huyết áp nặng;
PropylthiouracilBa tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ: Bướu cổ và thiểu năng tuyến giáp sơ sinh
PyrantelChưa thấy có độc hại
PyrazinamidChỉ dùng khi lợi ích điều trị vượt rủi ro
PyridostigminBa tháng cuối thai kỳ: nhược cơ sơ sinh với liều cao
PyrimethaminBa tháng đầu thai kỳ: Trên lý thuyết có nguy cơ gây quái thai (chất đối kháng folat); cần bổ sung lượng thích hợp folat cho bà mẹ. Ba tháng đầu thai kỳ: Tránh sử dụng trong viêm phổi do Pneumocystis carinii và bệnh toxoplasma; xem Sulfadiazin
QuinidinChưa thấy có độc hại ở liều điều trị, nhưng nhà sản xuất khuyên tránh dùng
QuininBa tháng đầu thai kỳ: Liều cao gây quái thai; nhưng trong bệnh sốt rét, lợi ích điều trị cao hơn rủi ro
RaloxifenTránh dùng
RanitidinKhông biết rõ tác hại
RetinolBa tháng đầu thai kỳ: Liều quá cao có thể gây quái thai; xem Mục 27.1
RibavirinTránh dùng, gây quái thai ở động vật nghiên cứu; cần phải dùng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong khi uống và trong 6 tháng sau khi ngừng điều trị ở nữ và nam
RifampicinBa tháng đầu thai kỳ: Liều rất cao có thể gây quái thai trên động vật nghiên cứu Ba tháng cuối thai kỳ: Có thể tăng nguy cơ chảy máu sơ sinh
RimantadinTránh dùng
RitonavirXem Lopinavir với Ritonavir
RopivacainChưa xác định được tính an toàn nhưng chưa thấy có độc hại. 
RoxithromycinChưa thấy có độc hại, nhưng chỉ nên dùng khi thật cần.
RượuBa tháng đầu và ba tháng giữa của thai kỳ: nếu uống rượu hàng ngày có thể gây quái thai (hội chứng dị dạng bào thai do rượu có thể xảy ra với trẻ em có mẹ nghiện rượu) và có thể gây chậm phát triển bào thai; nếu thỉnh thoảng uống một cốc nhỏ, có thể an toàn. Ba tháng cuối thai kỳ: Hội chứng cai rượu có thể xảy ra cho trẻ sơ sinh khi mẹ nghiện rượu.
SalbutamolSử dụng trong bệnh hen
SalmeterolXem chi tiết
SaquinavirTránh dùng nếu có thể trong ba tháng đầu thai kỳ; lợi ích đáng kể trong điều trị so với rủi ro trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ; xem Mục 6.5.2
Sắt dextranTránh dùng trong những tháng đầu thai kỳ
Selen sulfidChưa biết có độc hại, nhưng nên tránh dung
SpectinomycinKhông thấy gây độc hại
SpiramycinKhông thấy gây độc hại
SpironolactonĐộc tính trên động vật nghiên cứu
StavudinTránh sử dụng nếu có thể được trong ba tháng đầu thai kỳ; tăng nguy cơ nhiễm acid lactic và chứng nhiễm mỡ gan; xem Mục 6.7.2
StreptokinaseTất cả các giai đoạn của thai kỳ: Khả năng bong nhau thai sớm ở 18 tuần lễ đầu; về lý thuyết có khả năng chảy máu bào thai trong suốt quá trình mang thai; nguy cơ chảy máu ở bà mẹ khi dùng sau đẻ
StreptomycinTrong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ: gây hại đến thần kinh thính giác và tiền đình; tránh dùng trừ khi rất cần (nếu dùng, cần giám sát nồng độ streptomycin huyết tương)
Sulfacetamid natriChưa thấy độc hại
SulfadiazinBa tháng cuối thai kỳ: Tan máu và methe- moglobin - huyết sơ sinh; không thấy nguy cơ tăng vàng da nhân (kernicterus) ở trẻ sơ sinh. Trong bệnh do Toxoplasma, tránh dùng trong ba tháng đầu của thai kỳ, nhưng có thể dùng trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ nếu có nguy cơ truyền bệnh bẩm sinh
Sulfadoxin + PyrimethaminTrong điều trị sốt rét, lợi ích dự phòng và điều trị lớn hơn rủi ro. Ba tháng đầu thai kỳ: nguy cơ khả năng gây quái thai (pyrimethamin là chất đối kháng folat). Ba tháng cuối thai kỳ: Tan máu và methe- moglobin - huyết sơ sinh; không thấy nguy cơ vàng da nhân ở trẻ sơ sinh
Sulfamethoxazol + TrimethoprimBa tháng đầu thai kỳ: Nguy cơ gây quái thai (trimethoprim là chất đối kháng folat) Ba tháng cuối thai kỳ: Tan máu và methe- moglobin - huyết sơ sinh; không thấy nguy cơ vàng da nhân ở trẻ sơ sinh
SulfasalazinBa tháng cuối thai kỳ: trên lý thuyết, nguy cơ tan máu sơ sinh; phải bổ sung cho bà mẹ một lượng folat thích hợp
SulpiridTrong 3 tháng cuối, có thể gây tác dụng ngoại tháp cho trẻ sơ sinh. Nhà sản xuất khuyên tránh dùng.
SuxamethoniumCó thể xảy ra liệt nhẹ kéo dài ở mẹ
TamoxifenTránh dùng - có thể có tác động trên sự phát triển bào thai; phải dùng thuốc tránh thai có hiệu quả trong khi sử dụng và 2 tháng sau khi ngừng thuốc
TestosteronTất cả các giai đoạn của thai kỳ: nam hoá bào thai nữ
TetracyclinBa tháng đầu thai kỳ: Tác động đến sự phát triển bộ xương trong những nghiên cứu trên động vật; Ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ: biến màu men răng; nhiễm độc gan thai phụ ở liều cao
TheophylinBa tháng cuối thai kỳ: có báo cáo về tính dễ bị kích thích ở trẻ sơ sinh và ngừng thở
ThiamphenicolTránh dùng trừ khi thật cần, lợi nhiều hơn hại. Tránh dùng quá liều (xem cloram- phenicol)
ThiopentalBa tháng cuối thai kỳ: Suy hô hấp sơ sinh
TimololCó thể gây chậm phát triển bào thai trong tử cung, giảm glucose - huyết và làm chậm nhịp tim; nguy cơ lớn hơn khi gặp trong tăng huyết áp nặng
TinidazolNhà sản xuất khuyên tránh dùng trong ba tháng đầu thai kỳ
TobramycinXem aminoglycosid
TrihexyphenidylDùng thận trọng
TrimethoprimBa tháng đầu thai kỳ: Nguy cơ gây quái thai (chất đối kháng folat)
TropicamidChưa biết rõ tác hại. Chỉ dùng khi thật cần
Vaccin BCGBa tháng đầu thai kỳ: Trên lý thuyết, nguy cơ dị tật bẩm sinh, nhưng sự cần thiết phải tiêm chủng lớn hơn rủi ro có khả năng xảy ra với bào thai (xem phần giới thiệu mục 19.2 - chống chỉ định và thận trọng)
Vaccin Bại liệt sốngBa tháng đầu thai kỳ: Trên lý thuyết, nguy cơ dị tật bẩm sinh, nhưng sự cần thiết phải tiêm chủng lớn hơn rủi ro có khả năng xảy ra với bào thai
Vaccin MMR (sởi, quai bị, rubella)Tránh dùng; tránh thụ thai một tháng sau khi tiêm chủng
Vaccin RubellaTránh dùng; tránh thụ thai một tháng sau khi tiêm chủng
Vaccin Sốt vàng (Yellow fever)Ba tháng đầu thai kỳ: Trên lý thuyết, nguy cơ dị tật bẩm sinh, nhưng sự cần thiết phải tiêm chủng lớn hơn rủi ro có khả năng xảy ra với bào thai
Vaccin SởiBa tháng đầu thai kỳ: Trên lý thuyết, nguy cơ dị tật bẩm sinh, nhưng sự cần thiết phải tiêm chủng lớn hơn rủi ro có khả năng xảy ra với bào thai (xem phần giới thiệu mục 19.2 - chống chỉ định và thận trọng); tránh MMR
VancomycinChỉ sử dụng nếu lợi ích điều trị vượt rủi ro - cần giám sát nồng độ vancomycin máu để giảm độc tính với bào thai
VecuroniumChỉ sử dụng nếu lợi ích điều trị vượt rủi ro - không có thông tin
VerapamilNghiên cứu trên động vật không chứng minh được tác dụng gây quái thai; khả năng verapamil làm giãn cơ tử cung cần được lưu tâm cuối thai kỳ; nguy cơ đối với bào thai cần cân nhắc với nguy cơ tăng huyết áp không kiểm soát được ở bà mẹ
VinblastinTránh dùng (có ít kinh nghiệm cho rằng có độc hại đối với bào thai; gây quái thai trên động vật nghiên cứu)
VincristinTránh dùng (gây quái thai và sảy thai trên động vật thí nghiệm); xem Mục 8.2
Vitamin ATrong 3 tháng đầu thai kỳ, liều quá cao có thể gây quái thai
Vitamin DLiều cao tác dụng toàn thân gây quái thai ở động vật nghiên cứu, nhưng liều điều trị ít khả năng gây độc hại; nhà sản xuất khuyên tránh dùng calcitriol bôi tại chỗ
Xanh methylen (methylth-ioninium clorid)Dùng thận trọng. Chỉ dùng khi thật cần thiết
WarfarinTất cả các giai đoạn của thai kỳ: Dị tật bẩm sinh; chảy máu bào thai và chảy máu sơ sinh;
ZanamivizNhà sản xuất khuyên chỉ nên dùng khi tiềm năng lợi ích điều trị vượt rủi ro. Hiện nay chưa có thông tin.
ZidovudinTránh dùng, nếu có thể được, trong ba tháng đầu của thai kỳ; lợi ích điều trị được coi là lớn hơn nguy cơ trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ;

Trong thời kỳ mang thai, người mẹ và thai nhi hợp thành một đơn vị chức năng không thể tách rời. Tình trạng sức khỏe của người mẹ là điều kiện tiên quyết cho sự hoạt động và phát triển của thai. Vì vậy điều quan trọng là phải điều trị tốt cho người mẹ khi có nhu cầu, đồng thời bảo vệ cho thai ở mức cao nhất có thể.

Bảng các thuốc nên tránh hoặc sử dụng thận trọng trong thời kỳ mang thai.
Thuốc nên tránh hoặc sử dụng thận trọng trong thời kỳ mang thai.

Thuốc có thể gây hại cho thai ở bất kỳ thời điểm nào của thai kỳ. Cần luôn nhớ điều đó khi kê đơn cho người ở tuổi mang thai. Tuy nhiên sợ dùng thuốc một cách phi lý trong thời kỳ mang thai cũng có thể có hại, thí dụ bệnh không được điều trị, người mẹ kém tuân thủ dùng thuốc, điều trị không tốt hoặc thất bại. Tất cả những điều đó có thể có hại cho sức khoẻ người mẹ và ảnh hưởng xấu đến thai.

Trong ba tháng đầu thai kỳ, thuốc có thể gây dị tật bẩm sinh (gây quái thai). Nguy cơ cao nhất là từ tuần thứ ba đến tuần thứ mười một của thai. Trong ba tháng giữa và cuối của thai kỳ, thuốc có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển chức năng của thai hoặc độc hại cho mô thai. Thuốc cho sát ngày thai đến hạn hoặc trong lúc chuyển dạ có thể tác dụng xấu đến chuyển dạ hoặc đến trẻ sơ sinh. Một số thuốc đã được kết luận gây quái thai ở người, nhưng không có một thuốc nào được coi chắc chắn là an toàn trong thời kỳ đầu mang thai.

Thuốc chỉ được kê đơn trong thời kỳ mang thai khi lợi ích đối với người mẹ lớn hơn nguy cơ đối với thai. Nếu có thể, phải tránh dùng mọi thuốc trong ba tháng đầu. Khi kê đơn, nên chọn các thuốc đã được dùng rộng rãi trong thời kỳ mang thai và thường được coi là an toàn hơn là kê đơn thuốc mới còn ít được thử thách. Phải dùng liều thấp nhất có hiệu quả, nên dùng những thuốc đơn thành phần đã biết rõ hơn là dùng các thuốc đa thành phần.

Các thuốc trong bảng dưới đây bao gồm một số thuốc có thể có hại trong thời kỳ mang thai và nêu rõ những tháng nào có nguy cơ. Các thông tin trong bảng này chỉ dùng như một hướng dẫn. Những thuốc không ghi trong bảng này thì không có nghĩa là những thuốc đó đã an toàn.

Nguồn Viện Kiểm Nghiệm Thuốc Trung Ương

Thận trọng dùng thuốc trong thời kỳ mang thai

Phụ nữ mang thai sử dụng một số thuốc có thể gây sảy thai, chết thai hoặc thai có những dị tật bẩm sinh.  2% các dị tật bẩm sinh là do thuốc mà các bà mẹ đã sử dụng trong lúc mang thai.

khi mang bầu, các bà mẹ cần thận trong khi dùng thuốc và bản thân cũng cần biết các loại thuốc tránh sử dụng trong thai kỳ.
khi mang bầu, các bà mẹ cần thận trong khi dùng thuốc và bản thân cũng cần biết các loại thuốc tránh sử dụng trong thai kỳ.

Hơn 8.000 trẻ sơ sinh bị cụt tay bẩm sinh do hậu quả mẹ dùng thuốc an thần thalidomide trong thai kỳ. Từ đó, người ta quan tâm hơn đến tính an toàn của thuốc khi sử dụng trong thai kỳ, đặc biệt về khả năng gây quái thai.

Vì vậy, khi mang bầu, các bà mẹ cần thận trong khi dùng thuốc và bản thân cũng cần biết các loại thuốc tránh sử dụng trong thai kỳ.

– Các vitamin:

  • Vitamin A: Liều cao dùng trong lúc mang thai sẽ gây dị dạng mặt, sọ, tim, sinh dục cho thai nhi.
  • Vitamin B6: Dùng kéo dài gây co giật.
  • Vitamin C: Liều cao có thể gây dị tật.
  • Vitamin D: Liều cao gây tăng huyết áp, chậm phát triển tâm thần. Vitamin E: Dùng nhiều gây tiêu chảy cho trẻ.

– Thuốc tiêu hóa: cimetidin: gây vàng da ở trẻ sơ sinh.

– Thuốc corticoid : Gây ức chế vỏ thượng thận, gây hở môi, khe vòm miệng nếu dùng kéo dài trong thai kỳ.

– Thuốc hô hấp: Salbutamol và ephedrin làm tim thai nhanh. Aminophyllin làm tim đập nhanh, tăng đường huyết.

– Thuốc chống ung thư: Methotrexat, mercaptopurin gây thai chết lưu, dị tật bẩm sinh, não úng thủy, thai vô sọ, sứt môi, dị dạng chi.

Cyclophosphamid gây đẻ non, dị dạng chi, tai.

– Thuốc kháng viêm không steroid : Gây co thắt ống động mạch, viêm ruột hoại tử.

– Thuốc kháng sinh: Penicillin: Liều cao có thể gây thai chết lưu.

  • Tetracyclin: Răng bị vàng, da vàng, dị hình ở chi.
  • Bactrim: Tăng nguy cơ vàng da ở trẻ sinh non.
  • Griseofulvin: Gây sảy thai và dị tật bẩm sinh.
  • Norfloxacin: Ảnh hưởng đến sự phát triển sụn của bào thai.
  • Neomycin: Gây vàng da.
  • Lincomycin: Ảnh hưởng đến sự phát triển của xương.
  • Metronidazole: Ảnh hưởng đến nhiễm sắc thể của thai, gây dị dạng bẩm sinh. Isoniazid: Gây tổn thương hệ thần kinh bào thai.

Rifampicin: Gây dị dạng xương, giảm số lượng tinh trùng ở trẻ nam.

– Thuốc ứng chế men chuyển

– kháng cholinergic : gây hóa xương sọ chậm, tắc ruột, bệnh ở ống tiết niệu.

-Thuốc kháng giáp:Methimazole – carbimazole: gây dị dạng ở mặt, hẹp lỗ mũi và thực quản, chậm phát triển trí tuệ.

– Thuốc chống động kinh: Carbamazepin – valproate natri (VPA), gây dị dạng ở mặt, nứt đốt sống, lệch lỗ tiểu, dị dạng tim, kẽ hở vùng bụng, chậm nói, cận thị.

Trimethadion – hydantoin gây dị dạng ở hệ thần kinh trung ương, mũi kém phát triển.

– Thuốc có hoạt tính androgen: Danazol gây thai nữ bị nam hóa.

– Thuốc hạ đường huyết: Gây hàm lượng glucose huyết thấp ở trẻ sơ sinh.

– Thuốc chữa rối loạn tâm thần: Lithium gây nguy cơ bệnh tim cho trẻ, gây rối loạn chức năng tiêu hóa, gây đái tháo nhạt.

– Thuốc an thần:

  • Barbiturat: Gây rối loạn chức năng gan, dễ xuất huyết.
  • Meprobamat: Chậm phát triển tâm thần, dị tật tim bẩm sinh. Diazepam: Trẻ sinh ra bị ngạt, vàng da, bú kém. Phenergan: Ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu.
  • Thalidomid: Dị dạng nội tạng, các chi ngắn.

– Thuốc estrogen tổng hợp:

Diethylstibestrol gây ung thư biểu bì âm đạo, dị tật bộ phận sinh dục, tiết niệu nữ, ở nam dị dạng bộ phận sinh dục.

– Thuốc huyết học:

Warfapin: Gây dị dạng ở bộ xương, đầu nhỏ, thoái hóa thần kinh thị giác, phát triển tâm thần chậm.

Dicoumarol: Gây thai lưu và xuất huyết ở trẻ sơ sinh.

– Thuốc giảm đau:

  • Methadon: Gây suy hô hấp khi sinh.
  • Aspirin: Gây chảy máu ở trẻ sơ sinh. Salicylat natri: Có thể gây thai chết lưu. Indomethacin: Suy giảm chức năng thận.

– Thuốc tim mạch:

Methyl dopa: Trẻ sơ sinh có vòng đầu nhỏ. Propanolol: Gây chậm nhịp tim thai, hạ đường huyết. Reserpin: Làm trẻ lừ đừ, bú ít, hạ thân nhiệt.

– Thuốc sốt rét:

  • Quinin: Liều cao gây não úng thủy, dị dạng thận, và tứ chi, có thể gây thai chết lưu, điếc bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần.
  • Chloroquin: Mẹ điều trị gây điếc ở con, tổn thương võng mạc.

– Thuốc có tác dụng làm giảm hoạt tính các tuyến bã nhờn ở da và chống viêm.

Retinoid – isotretinoin – etretinat: Gây dị dạng ở thần kinh trung ương và bệnh tim.

Phụ nữ mang thai cần hiểu biết về các thuốc có nguy cơ gây dị tật bẩm sinh để tránh sử dụng, bảo đảm an toàn thai sản.

Theo Sức khỏe và đời sống

Mang thai ăn gì cho con thông minh

Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, các loại siêu dưỡng chất Thực phẩm thai phụ không nên dùng như folate, choline, axit béo thiết yếu, sắt có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển trí thông minh của trẻ ngay từ trong thai

à bầu nên bổ sung bổ sung có khoa học các loại hoa quả, rau củ và các loại sữa giàu canxi cộng với các loại thịt, cá, thịt gà, cây họ đậu điều độ mỗi ngày để con cái được thông minh và khỏe mạnh”.
à bầu nên bổ sung bổ sung có khoa học các loại hoa quả, rau củ và các loại sữa giàu canxi cộng với các loại thịt, cá, thịt gà, cây họ đậu điều độ mỗi ngày để con cái được thông minh và khỏe mạnh”.

Vì vậy những gì bạn ăn trong quá trình mang thai là rất quan trọng. Bà cho biêt thêm: “Bà bầu nên bổ sung bổ sung có khoa học các loại hoa quả, rau củ và các loại sữa giàu canxi cộng với các loại thịt, cá, thịt gà, cây họ đậu điều độ mỗi ngày để con cái được thông minh và khỏe mạnh”.

Dưới đây là danh sách những loại siêu thực phẩm sẽ giúp bé phát triển thông minh hơn ngay từ trong bụng mẹ:

Các axit béo thiêt yếu

Các loại axit béo cần thiêt như DHA, AA rất quan trọng cho phát triển mắt, não, hệ mạch và hệ thần kinh của thai nhi, đặc biệt trong 3 tháng cuối khi bộ não của bé đang phát triển rất nhanh. Bà bầu cần chú ý bổ sung các axit béo trong ba tháng cuối thai kì và trong 18 tháng đầu sau khi bé chào đời.

Các loại axit béo cần thiêt như DHA, AA rất quan trọng cho phát triển mắt, não, hệ mạch và hệ thần kinh của thai nhi
Các loại axit béo cần thiêt như DHA, AA rất quan trọng cho phát triển mắt, não, hệ mạch và hệ thần kinh của thai nhi

Các nguồn thực phẩm giàu DHA và AA là cá ngừ, cá hồi, dầu cá, gan và trong sữa mẹ., khi mẹ bổ sung nhiều dưỡng chất DHA giúp em bé có những giấc ngủ ngon hơn. Vì vậy bà bầu và phụ nữ nuôi con cần chú ý bổ sung đầy đủ chất béo vào cơ thể.

Các bé sinh non hoặc nhẹ cân thường bị bỏ qua mất giai đoạn quan trọng này và cần được sự chăm sóc đặc biệt, trong đó phải đảm bảo chê độ dinh dưỡng giàu axit béo omega-3. Các bác sĩ nhi thường khuyên các bà mẹ cho trẻ sinh non bú mẹ hay dùng sữa công thức loại đặc biệt.

Thai phụ nên cố gắng bổ sung các thực phẩm sau trong chê độ ăn hằng ngày:

– Ăn 2 bữa cá/tuần hoặc uống dầu cá nêu không thích ăn cá.

– Ăn các loại hạt như hạt hướng dương, hạt bí, hạnh nhân…

– Ăn các loại ra lá xanh như bắp cải, súp lơ, súp lơ xanh, đỗ xanh

– Ăn các loại dầu thực vật làm từ hạt vừng, hạt hướng dương, đậu nành, canola

– Ăn nhiều đỗ tương và đậu phụ Folate

Axit folic hoặc folate là một loại vitamin B được tìm thấy chủ yêu trong các loại rau xanh. Bổ sung đầy đủ folate trước khi mang bầu 3 tháng và trong tam cá nguyệt thứ nhất sẽ giúp giảm nguy cơ khuyêt tật ống thần kinh, tủy sống và các vấn đề về não của thai nhi.

Colin

Một loại vitamin B khác nữa là colin. Dưỡng chất này có mối liên quan đặc biệt với trí nhớ của não bộ.

Colin có nhiều trong các loại thực phẩm như trứng, sữa, thịt nạc và đặc biệt trong sữa mẹ.

Bạn cũng có thể bổ sung thêm loại dưỡng chất đặc biệt này với các loại viên nang, viên nén bán trên thị trường.

Sắt: Có mối quan hệ chặt chẽ giữa lượng sắt thấp và sự kém phát triển não bộ của thai nhi trong bụng mẹ. Chính vì vậy, sắt cũng rất cần thiêt để não trẻ phát triển toàn diện.

Đời sống tình dục trong quá trình mang thai

Có rất nhiều thắc mắc về vấn đề đời sống tình dục trong quá trình mang thai và sau sinh không chỉ đối với người nam mà lẫn người nữ cũng rất quan tâm. Cùng đi tìm câu trả lời cho những thắc mắc của bạn. 

Trong suốt thời kỳ mang thai, nếu thai kỳ bình thường và ổn định thì việc quan hệ tình dục là an toàn và hoàn toàn không ảnh hưởng tới em bé. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho em bé trong thời gian này, người chồng không nên có những động tác quá mạnh, tránh đè ép vào bụng, thời gian quan hệ cũng không nên kéo dài quá.
Trong suốt thời kỳ mang thai, nếu thai kỳ bình thường và ổn định thì việc quan hệ tình dục là an toàn và hoàn toàn không ảnh hưởng tới em bé. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho em bé trong thời gian này, người chồng không nên có những động tác quá mạnh, tránh đè ép vào bụng, thời gian quan hệ cũng không nên kéo dài quá.

Sự thay đổi của đời sống tình dục khi mang thai.

Nhiều phụ nữ nói rằng, họ cảm thấy đời sống tình dục trong thời kỳ mang thai hoàn toàn bị thay đổi. Một số phụ nữ cảm thấy tăng cảm xúc và hoàn toàn hài lòng, nhưng một số lại không có nhu cầu hoặc khó chịu khi “yêu” ở một giai đoạn hoặc cả quá trình mang thai. Tại sao có sự thay đổi này?

Việc tăng khối lượng tuần hoàn đến vùng tiểu khung làm ứ máu tại bộ phận sinh dục làm tăng độ cảm nhận, thêm vào đó sự thay đổi cũng như tăng tiết dịch của âm đạo sẽ giúp bạn phấn chấn khi “yêu”.

Mặt khác, có thể bạn không thích sự thay đổi này, căng ứ máu tại bộ phận sinh dục làm bạn rất khó chịu. Và như đã nói ở trên bạn có thể cảm nhận bị co rút nhẹ cơ bụng hoặc có cơn co tử cung ngay hoặc sau khi “yêu”.

Vú của bạn trở nên rất tinh tế, dễ nhạy cảm khi chạm vào, đặc biệt vào ba tháng đầu, sự nhạy cảm này sẽ giảm dần nhưng vẫn nhạy cảm hơn bình thường. Một số phụ nữ cảm thấy rất hưng phấn khi bạn tình chạm vào ngực nhưng một số khác lại không có cảm giác này, thậm chí họ không muốn có sự đụng chạm.

Quan hệ tình dục thời kỳ mang thai

Đảm bảo vấn đề an toàn cho em bé khi sinh hoạt vợ chồng trong quá trình mang thai bằng cách nào?

Thực hiện quan hệ tình dục cũng là cách giảm stress cho thai phụ và giúp thai nhi đi vào giấc ngủ dễ dàng thoải mái. Theo một nghiên cứu khác còn cho thấy rằng quan hệ tình dục là hoạt động thể chất tốt làm xương chậu của người phụ nữ mềm dẻo và linh hoạt, trợ giúp người mẹ hồi phục nhanh chóng hơn sau khi sinh.

Một số lời khuyên cho bạn:

1. Phụ nữ nên ở vị trí bên trên hoặc bên cạnh sẽ thuận tiện hơn khi thai ngày càng phát triển.

2. Độ sâu xâm nhập, người phụ nữ nên chủ động làm theo ý của mình để cảm thấy phù hợp, an toàn nhất.

3. Dịch hoặc khí (hoặc bất cứ vật ngoại lai) không nên sử dụng đưa vào trong âm đạo khi quan hệ tình dục trong thời kỳ mang thai. Tuyệt đối không đươc thụt rửa âm đạo.

4. Sự hiểu biết, đồng cảm, sự sáng tạo và chiều theo ý của người phụ nữ là những điều quý giá để “yêu” trong suốt thời kỳ có thai.

5. Người phụ nữ luôn có thể nói “ không” khi có thai.

6. Nếu thai phụ ở trong tình trạng thai nghén nguy cơ cao cần tránh quan hệ tình dục, thời gian tránh quan hệ nên theo lời khuyên của bác sĩ. Kích thích núm vú cũng nên tránh trong thời gian này.

7. Tránh quan hệ tình dục (hoặc những hàng động tình dục) nếu bác sĩ đã khuyến cáo bạn.

8. Tránh quan hệ tình dục nếu rỉ ối hoặc vỡ ối, kể cả khi nghi ngờ rỉ ối.

9. Tránh quan hệ tình dục nếu thai phụ hoặc bạn tình bị bệnh lây nhiễm qua đường tình dục hoặc nhiễm HIV. Hãy dùng bao cao su nếu không thể tránh quan hệ tình dục.

10. Đây là giai đoạn bắt đầu phải thảo luận với bạn tình việc tránh thai sau sinh.

Trường hợp nên tránh quan hệ tình dục

– Trong 3 tháng đầu của thai kỳ, do nội tiết tốt hay đổi, do ốm nghén, cộng với tâm lý lo lắng nên hầu hết phụ nữ không thấy có ham muốn, thậm chí có người còn sợ hãi khi đề cập tới “chuyện ấy”. Nếu rơi vào hoàn cảnh này, tốt nhất là cả hai vợ chồng nên động viên nhau để cùng vượt qua giai đoạn khó khăn. Không nên cố gắng quan hệ tình dục để rồi thêm lo lắng, bất an, thậm chí dẫn tới sợ hãi và lãnh cảm sau này.

– Người vợ có tiền sử sảy thai, đẻ non ở lần có thai trước nên cẩn thận khi quan hệ tình dục trong giai đoạn này , vì sẽ kích thích làm tử cung co bóp đẩy thai ra ngoài. Nếu thấy đau bụng hoặc ra huyết sau khi quan hệ thì phải dừng chuyện ấy lại ít nhất 2 tuần sau đó và đi tư vấn bác sĩ.

– Thai phụ mắc bệnh tăng huyết áp, mang thai đôi, nhau thai bám thấp,có vấn đề bất thường cổ tử cung… nên tránh sinh hoạt tình dục, nếu muốn quan hệ vợ chồng cần tham khảo ý kiến của bác sĩ.

– Với các trường hợp người phụ nữ bị suy dinh dưỡng nặng, tăng cân ít, da xanh, thai bị suy dinh dưỡng cần cân nhắc khi quan hệ tình dục. Do tinh trùng có chứa hormon prostaglandin kích thích sự co bóp, do vậy muốn thực sự an toàn, khi sinh hoạt vợ chồng nên dùng bao cao su.

  • Việc quan hệ vợ chồng khi mang thai phải do người vợ quyết định: Trong quá trình mang thai, do sự thay đổi hoocmon mà nhu cầu quan hệ tình dục của người vợ có thể tăng hay giảm tùy cơ địa từng người. Do vậy việc quan hệ hay không phải hoàn toàn do người vợ quyết định và chủ động. Các chị em cũng không nên vì cố chiều chồng khi không thất sự mong muốn
  • Giảm thiểu các kích thích nên vùng ngực: Các ông chồng nên hạn chế những kích thích mạnh lên vùng ngực, đặc biệt là khu vực nhũ hoa
  • Nên nhẹ nhàng, không thô bạo: Điều này là cực kỳ quan trọng để giữ thai nhi. Rất nhiều cặp vợ chồng quan hệ mạnh, quá đà dẫn tới sẩy thai. Thời gian quan hệ cũng nên được rút ngắn để tránh những xung huyết và co bóp cổ tử cung trong thời gian dài, không tốt cho thai nhi
  • Sử dụng bao cao su: Người chồng nên sử dụng bao cao su khi quan hệ vợ chồng khi mang thai để tránh nguy cơ viêm nhiễm phụ khoa cho người vợ, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi, tiềm tàng nhiều nguy cơ nguy hiểm cho trẻ sinh ra sau này
  • Nếu người vợ thấy băng huyết hoặc đau bụng trong và sau quá trình quan hệ tình dục, cần dừng ngay lại và đi hỏi ý kiến bác sĩ để tránh những hậu quả nguy hiểm về sau

 Quan hệ nhiều có tốt không ảnh hưởng tới bé như thế nào

Do thai nhi trong tử cung được bao bọc và bảo vệ tương đối an toàn từ nước ối bao bọc, màng ối vững chắc và nút chất nhầy che lấp cổ tử cung. Tư thế động tác quan hệ,cả khi quan hệ sâu, dương vật cũng không thể chạm đến em bé. Do đó, quan hệ tình dục rất có thể được xem như không gây hại đến bé yêu của bạn.

Thực hiện quan hệ tình dục cũng là cách giảm stress cho thai phụ và giúp thai nhi đi vào giấc ngủ dễ dàng thoải mái. Theo một nghiên cứu khác còn cho thấy rằng quan hệ tình dục là hoạt động thể chất tốt làm xương chậu của người phụ nữ mềm dẻo và linh hoạt, trợ giúp người mẹ hồi phục nhanh chóng hơn sau khi sinh.

Tình dục khi mang thai mang lại rất nhiều lợi ích tuyệt vời, và gắn bó tình cảm giữa vợ chồng, nhưng không vì vậy mà việc quan hệ tình dục có thể thoải mái như khi không có thai. Thai phụ cần tránh những tư thế tình dục đè nén, thỏa thuận với chồng về thời gian quan hệ, cách thức xuất tinh và chú ý cảm giác khi quan hệ nếu thấy kích thích tử cung hoặc đau bụng, ra máu thì cần dừng ngay việc quan hệ và đi khám bác sĩ.

Siêu âm tim thai để phát hiện sớm dị tật

Siêu âm tim thai sớm để xem thai nhi phát triển và xem thứ biểu hiện của tim thai xem tim thai rất nhiều yêu tố ảnh hưởng tới thai nhi. Nếu bạn đang trong quá trình mang thai Phải siêu âm để sớm. 

Theo các nghiên cứu về bệnh tim bẩm sinh trên thế giới, tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh ở trẻ là khoảng 0,7-0,8%, trung bình cứ 1.000 trẻ ra đời thì có 8 bé bệnh tim bẩm sinh các loại. Trong đó, khoảng 20-30% trường hợp cần thiết phải can thiệp sớm.
Theo các nghiên cứu về bệnh tim bẩm sinh trên thế giới, tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh ở trẻ là khoảng 0,7-0,8%, trung bình cứ 1.000 trẻ ra đời thì có 8 bé bệnh tim bẩm sinh các loại. Trong đó, khoảng 20-30% trường hợp cần thiết phải can thiệp sớm.

Thai phụ bị bệnh tiểu đường, thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, các trường hợp thụ tinh nhân tạo… phải siêu âm tim bào thai để phát hiện sớm bệnh tim bẩm sinh ở thai nhi.

Theo các nghiên cứu về bệnh tim bẩm sinh trên thế giới, tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh ở trẻ là khoảng 0,7-0,8%, trung bình cứ 1.000 trẻ ra đời thì có 8 bé bệnh tim bẩm sinh các loại. Trong đó, khoảng 20-30% trường hợp cần thiết phải can thiệp sớm.

Bệnh tim bẩm sinh nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến suy tim, tăng áp động mạch phổi, trẻ chậm tăng trưởng, chậm phát triển tâm thần, vận động… và có thể gây tử vong. Do đó, việc siêu âm tim bào thai để biết được tình trạng tim thai nhi là rất cần thiết.

Trong một số trường hợp, chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh trước khi sinh giúp người mẹ mang thai có hướng can thiệp kịp thời, hoặc gia đình có sự tổ chức và lập kế hoạch để bé chào đời ở nơi có đầy đủ trang thiết bị và được chăm sóc tốt về tim mạch ngay sau sinh.

Trường hợp người mẹ có một con bị tim bẩm sinh, thai nguy cơ mắc bệnh 1/20-1/100. Nếu có hai con trước bị tim bẩm sinh, thai có nguy cơ 1/10-1/20. Trong trường hợp mẹ mắc tim bẩm sinh, thai nguy cơ 1/5-1/20. Nếu cha mắc bệnh thì thai nguy cơ 1/30, tức con có khả năng bị bệnh khoảng 3%.

Những nguy cơ bị tim bấm sinh từ người mẹ:

– Tiền sử gia đình có tim bẩm sinh.- Tiền sử gia đình có tim bẩm sinh.
– Người mẹ có bệnh chuyển hóa: Tiểu đường, phenylketone niệu.
– Tiếp xúc độc chất, thuốc gây quái thai (chống co giật, chống trầm cảm, Isulin…).
– Tiếp xúc thuốc ức chế tổng hợp prostagladin (salicilic acid, ibuprofen, indomethacin…).
– Mẹ bị nhiễm Rubella, bị bệnh tự miễn (lupus đỏ, HC Sjogren.).
– Rối loạn di truyền.
– Trường hợp thụ tinh nhân tạo.
Những dấu hiệu thai nhi có khả năng mắc tim bấm sinh:
– Siêu âm tầm soát sản khoa thấy bất thường.
– Dị tật bẩm sinh ngoài tim.
– Bất thường nhiễm sắc thể: thóat vị rốn, thoát vị hoành, teo hành tá tràng, phù gáy, nang dịch…
– Loạn nhịp tim thai.
– Phù nhau thai.
– Độ mờ da gáy tăng trong 3 tháng đầu thai kỳ.
– Đa thai và nghi ngờ hội chứng trao đổi song sinh.

Càng ngày kỹ thuật siêm âm tim bào thai càng phát triển và có những tiến bộ đáng kể. Khả năng phát hiện tim bẩm sinh của siêu âm khi tuổi thai 11-12 tuần là 88%, khi tuổi thai 12-13 tuần là 97% và với tuổi thai 13-14 tuần khả năng phát hiện bệnh đạt tỷ lệ 99%.

Info Tìm thuốc nhanh

Theo healthy.com

 

Phương pháp tránh thai an toàn không cần dùng dụng cụ kỹ thuật

Phương pháp tránh thai không cần dùng dụng cụ kỹ thuật, kỹ thuật ở đây là các phương pháp như đặt vòng, sử dụng bao cao su hoặc thuốc tránh thai. Phương pháp tránh thai tính ngày trong chu kỳ kinh nguyệt.

Phương pháp tránh thai bằng cách tính vòng kinh 
1. Chỉ định: Cho người có vòng kinh đều
Phương pháp tránh thai bằng cách tính vòng kinh này chỉ áp dụng cho những người có chu kỳ kinh nguyệt đều và vòng kinh không quá dài (chỉ khoảng từ 28 -30 ngày). Nếu kỳ kinh không đều và quá dài sẽ khiến phương pháp này có nguy cơ bị phá sản cao.
2. Nguyên lý
– Noãn (trứng sau khi rụng) chỉ sống được 12 giờ nếu không thụ tinh sẽ chết. Do đó tính từ ngày phóng noãn lùi về sau 1 ngày và để chắc chắn hơn, lùi về sau 2 ngày sẽ không có khả năng thụ thai.
– Tinh trùng chỉ sống được 48 giờ: Quá ngày phóng noãn 3 ngày sẽ không có khả năng thụ thai.
– Điều quan trọng là phải xác định được ngày phóng noãn: Theo Knaaus và Ogino, ở người phụ nữ vòng kinh 28 ngày, noãn có thể rụng từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 16 sau ngày đầu có kinh của chu kỳ trước; hay nói khác đi là vào ngày thứ 17 đến ngày thứ 12 của chu kỳ sau, 6 ngày ấy cộng thêm 3ngày về trước, và cộng thêm 2 ngày về sau gồm 11 ngày có khả năng thụ tinh, gọi là ngày không an toàn.
– Như vậy tính từ ngày đầu có kinh thì thời gian không an toàn được tính từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 19 và tính ngược lại là ngày thứ 20 đến ngày thứ 10 trước khi có kinh lại.

Vòng tròn tính chu kỳ kinh nguyệt
Vòng tròn tính chu kỳ kinh nguyệt

Về ý nghĩa tránh thai, vòng kinh 28 ngày được chia làm ba phần:
– Phần trước: từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 7: an toàn tương đối
– Phần giữa: từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 19: Ngày không an toàn
– Phần cuối: Từ ngày thứ 19 đến ngày thứ 28: An toàn tuyệt đối
Tuy nhiên, nhiều người vẫn không hoàn toàn tán thành nhận định của 2 tác giả này vì cho rằng có thể phóng noãn mà không có kinh nguyệt, hoặc có những vòng kinh không phóng noãn; hoặc noãn có thể rụng bất cứ lúc nào; hoặc một chu kỳ có thể có nhiều noãn rụng. Nhưng họ cũng phải thừa nhận rằng 75% trường hợp thì phát biểu của Knaaus va Ogino là đúng.

3. Áp dụng như thế nào 
– Với nguyên tắc là nửa thời kỳ sau của phóng noãn thời gian ít thay đổi so với nửa trước nên có thể lập một bảng tính sẵn theo các chu kỳ dài ngắn. – Nếu vòng kinh có số ngày không đổi thì chỉ cần tra theo một dòng ngang ví dụ nếu vòng kinh của bạn đều đặn là 30 ngày thì ngày có khả năng rụng trứng sẽ rơi vào khoảng ngày thứ 10 đến ngày thứ 20. – Nếu trong trường hợp vòng kinh có xê xích trong năm thì bạn có thể lấy chu kỳ ngắn nhất và chu kỳ dài nhất để tính như sau:

Ví dụ: Chu kỳ ngắn nhất 26 ngày trừ đi 20 được 6  Chu kỳ dài nhất là 30 ngày trừ đi 10 được 20 như vậy khoảng thời gian không an toàn sẽ rơi vào khoảng từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 20.

4.Ưu điểm
Dễ phổ biến, dễ áp dụng, không cần phương tiện, không tốnkém, có thể áp dụng lâu dài, không hạn chế thời gian và không ảnh hưởng đến sức khoẻ và khả năng sinh sản.

5. Nhược điểm 
– Chỉ áp dụng cho người có vòng kinh đều hoặc xê xích không đáng kể.
– Tác dụng tránh thai không cao vì noãn có thể rụng bất thường.
– Không thích hợp với những vợ chồng có tần xuất giao hợp cao.
– Không thể coi là biện pháp tránh thai trên diện rộng.

Nguồn Thuốc biệt dược

Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai

Chế độ dinh dưỡng cho phụ nữ khi mang thai là hết sức quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho người mẹ và thai nhi đang phát triển, đồng thời tạo nguồn sữa cho con bú sau khi sinh.

Dinh-dưỡng-cho-phụ-nữ-mang-thai
Hình ảnh minh họa

Về thực phẩm

Nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cho thai phụ tăng dần trong thời gian mang thai, nhất là trong những tháng cuối thai kỳ. Trung bình một người mẹ chưa có thai cần khoảng 2.200 Calo/ngày, khi có thai, nhu cầu này tăng dần cho đến trước khi sinh, cần đạt 2.550 — 2.650 Calo/ngày.

Một số bà mẹ mới có thai lần đầu, có thể bị các triệu chứng ốm nghén, khó dung nạp thức ăn, hay Ợ chua, nôn ói,… thì nên chọn thức ăn phù hợp, chia thành nhiều bữa ăn nhỏ, để cố gắng ăn đầy đủ lượng thực phẩm cần thiết, nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người mẹ và sự phát triển của bào thai.

Để có một thai kỳ khỏe mạnh, chế độ ăn của người mẹ cần phải được cân bằng các chất protein (đạm), carbohydrat (bột, đường) và lipid (dầu, mỡ), cũng như các vitamin, khoáng chất và chất xơ.

Nguồn protein tốt nhất là từ thịt nạc, trứng, sữa, cá, hải sản và các sản phẩm từ sữa, hoặc đậu nành,..

Nguồn carbohydrat chủ yếu từ gạo (cơm, mì, bún, phở…), bánh mì; bắp (ngô); các loại khoai (khoai lang, khoai tây)… Nên hạn chế các loại đồ ngọt có đường tinh chế như đường cát, bánh, kẹo, nước ngọt…

Về chất béo: cũng rất cần thiết để cung cấp năng lượng và xây dựng các mô tế bào, nhất là tế bào thần kinh của thai nhi. Nguồn cung cấp chất béo tốt nhất là các loại dầu ăn, cá béo, đậu, mè, trái bơ, các loại hạt và quả hạch, như đậu phộng (lạc), hạt điều, hạt bí, hướng dương, hạnh nhân, hạt óc chó,… vốn giàu các chất béo không bão hòa cần thiết, đồng thời nên hạn chế các thực phẩm giàu chất béo bão hòa như thịt mỡ, bơ, thịt xông khói, gà rán, khoai tây chiên,… và các chất béo chuyển hóa (trans fat) thường thấy trong các thực phẩm công nghiệp.

Ngoài ra, phụ nữ mang thai cần ăn thêm nhiều rau, trái cây tươi để có thêm nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ, giúp dễ tiêu hóa, ngừa táo bón, cần thiết cho sức khỏe của người mẹ và thai nhi.

về cân nặng

Trọng lượng cơ thể của người mẹ khi mang thai sẽ tăng dần theo thời gian. Mức tăng hợp lý tùy thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khỏe và cân nặng ban đầu của thai phụ.

Theo Viện Y khoa Hoa Kỳ, khi thai phụ có trọng lượng vừa phải, trong suốt 9 tháng của thai kỳ chỉ nên tăng từ 11,4kg đến 15,9kg Nếu thai phụ thừa cân, thì chỉ nên hạn chế số cân tăng thêm trong khoảng từ 6,8kg đến 11,4kg.

Cụ thể hơn, trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ ở thai phụ có cân nặng bình thường trước khi mang thai thì nên duy trì độ tăng cân ở mức 0,4kg/tuần. Đôi với phụ nữ có cân nặng thấp, nên tăng khoảng 0,5kg/tuần; còn đối với phụ nữ thừa cân, chỉ duy trì mức tăng khoảng 0,3kg/tuần.

Thai phụ tăng cân quá nhanh hay quá chậm cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe cả người mẹ lẫn thai nhi.

về vitamin và khoáng chất

Ngoài việc ăn uống đầy đủ dưỡng chất, người mẹ khi mang thai có thể cần tăng cường thêm một số chất thiết yếu sau đây:

Sắt: có nhiều trong các thực phẩm từ thịt, huyết, gan, tim động vật, thủy hải sản, trứng,… và một ít trong rau quả. Tuy nhiên, phải lớn thai phụ, nhất là những người ăn chay, trước và trong thời kỳ mang thai cần được bổ sung chất sắt để ngăn ngừa thiếu sắt, làm ảnh hưởng đến hệ tạo máu và sự cung cấp oxy cho sự phát triển của thai nhi.

Thai phụ thiếu sắt sẽ có nguy cơ cao bị sinh con thiếu tháng, nhẹ cân, hoặc thai bị chết lưu… Thai phụ bị thiếu sắt cũng dễ bị suy nhược, mệt mỏi, trầm cảm và mất nhiều máu khi sinh.

Người mẹ mang thai nên bổ sung 60mg sắt nguyên tố/ngày trong suốt thời gian mang thai đến 1 tháng sau sinh.

Acid folic (vitamin B9): cơ thể thai phụ thiếu acid folic có thể dẫn đến dị tật khiếm khuyết ống thần kinh ở tủy sống và não bộ của thai nhi rất sớm, ngay từ tháng đầu tiên hình thành phôi thai.

Acid folic có trong nhiều loại rau xanh và các loại quả họ cam quýt, chuối… dưới dạng folat, nhưng thường chế độ ăn của phụ nữ trong tuổi sinh đẻ có thế không cung cấp đủ. Vì vậy, để tránh rủi ro, hầu hết các tài liệu khoa học đều khuyên người phụ nữ có khả năng sắp mang thai nên uống bổ sung acid folic mỗi ngày từ 400 – 800mcg (0,4 – 0,8mg), từ một tháng trước khi mang thai cho đến khi thai được 3 tháng.

Calci: nhu cầu calci hàng ngày ở phụ nữ mang thai lên đến khoảng 1.000mg/ngày, calci cần cho việc tạo xương và răng của thai nhi và duy trì độ chắc khỏe của xương, răng người mẹ, nên phụ nữ mang thai cần tăng cường calci qua việc tiêu thụ nhiều thực phẩm như sữa,  trứng, các loại thủy hải sản… Nếu cần, có thể bổ sung các chế phẩm có calci, (nên kèm vitamin D để tăng cường hấp thu calci).

Kẽm: có nhiều trong các loại hải sản, thịt, và các quả hạch. Những thai phụ quá gầy hoặc thiếu dinh dưỡng có thể thiếu kẽm, nên cần bố sung mỗi ngày từ  10mg kẽm để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi hoặc sẩy thai, sinh sớm…

Iod: cũng rất cần cho sức khỏe và sự phát triển của thai nhi. Nguồn thức ăn giàu iod là các hải sản và rong biển… Ngoài ra, phụ nữ mang thai nên sử dụng các loại muối hoặc bột nêm có tăng cường iod.

Một số điều cần lưu ý

Phụ nữ mang thai không nên dùng rượu, thuôc lá, cà phê, các chất kích thích.

Lựa chọn thực phẩm sạch, an toàn, nhất là thịt, cá, rau quả,…

Tránh dùng thịt, cá, trứng sống hoặc nấu chưa được chín, sữa và các thực phẩm chê biến từ sữa chưa tiệt trùng hoặc bảo quản trong điều kiện không hợp vệ sinh.

Chú ý về vệ sinh cá nhân, rửa tay thật kỹ sau khi dọn dẹp nhà cửa, làm vườn, chăm sóc thú cứng, cả sau khi vừa tiếp xúc với thịt, cá, trứng sống và trước khi chuẩn bị thức ăn để tránh nhiễm các mầm bệnh có thể gây sẩy thai hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của thai phụ và thai nhi.

Hạn chế ăn các loại cá lớn sống ở đại dương như cá mập, cá nhám, cá ngừ, cá kiếm, do nguy cơ nhiễm độc thủy ngân cao.

Không chỉ thuốc mà cả thực phẩm bổ sung cũng cần dùng thận trọng khi mang thai.

Tránh dùng các thực phẩm và nước uống đựng trong các loại bao bì nhựa hoặc giấy sáp chứa các hóa chất ô nhiễm như phthalat, bisphenol A (BPA)… có thể gây sẩy thai hoặc gây xáo trộn các hormon giới tính của thai nhi.

Phụ nữ trong thời kỳ mang thai cũng nên tránh dùng các loại mỹ phẩm không rõ nguồn gốc như thuốc trị mụn, tẩy da, son môi, thuôc nhuộm tóc,… hoặc lạm dụng xà phòng diệt khuẩn có chứa hóa chất triclosan,… có thể gây nguy hại cho sự phát triển của thai nhi.

Việc bổ sung vitamin và khoáng chất cũng cần cân nhắc, nếu thai phụ có dùng các loại thuốc bổ khác, hay dùng sữa công thức dành cho các bà bầu, đã có thêm các vitamin và khoáng chất rồi, thì phải tính toán để tránh trùng lắp, gây quá liều nguy hiểm.

Đặc biệt cần lưu ý là vitamin A cũng rất cần thiết cho phụ nữ mang thai, nhưng với liều cao, trên 3.000mcg/ngày (> 10.000IU/ngày), nó có thể gây dị dạng cho bào thai.

Trong thời kỳ mang thai, thai phụ cũng cần hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi muốn dùng thêm một loại thuốc bổ hay trị bệnh nào, kể cả các thuốc từ thảo mộc thiên nhiên, nhằm tránh những phản ứng nguy hiểm có thể xảy ra cho thai phụ và thai nhi.

Những nguy cơ khi sinh mổ các mẹ nên biết

Ngại các cơn đau, quan niệm rằng mổ đẻ (sinh mổ) an toàn hơn và thậm chí tin rằng con mình ‘sẽ có tương lai sáng lạn hơn’, nên nhiều sản phụ đã chọn mổ đẻ.

nguy co tu sinh mo
Chuyên gia sức khoẻ cho rằng sinh thường tốt cho cả mẹ lẫn béẢNH: SHUTTERSTOCK
Tuy nhiên, các chuyên gia sức khoẻ đã có những khuyến cáo đáng lưu ý.
Tỷ lệ sinh mổ tăng nhanh
Theo Vụ Sức khỏe bà mẹ – trẻ em (Bộ Y tế), tỷ lệ sinh mổ tăng nhanh trong các năm gần đây, hiện chiếm khoảng 25 – 30%, trong khi 15 – 20 năm trước tỷ lệ này chỉ chiếm 10 – 15%.
“Tỷ lệ sinh mổ có tăng so với các năm trước đây, nhiều trường hợp do sản phụ và gia đình yêu cầu. Nguyên nhân có thể do tâm lý bà mẹ ngại đau; cũng có thể do họ cho rằng đẻ mổ bắt con an toàn, bé sớm được ra cho đỡ… ngạt”, GS-TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế – chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực sản khoa nhận xét. Chuyên gia này đánh giá, thậm chí cũng có thể do gia đình và sản phụ quan niệm con sinh ra vào “giờ đẹp” sẽ thông minh hơn, thành công hơn trong tương lai nên họ chọn ngày giờ để sinh và chỉ sinh mổ mới có thể “trúng” được ngày giờ đã chọn. “Nhưng đến nay chưa có bằng chứng khoa học cho việc này, thậm chí đẻ mổ có nguy cơ tai biến cao hơn cho mẹ và bé”, Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến khẳng định.
Ngoài ra, các chuyên gia cũng cho rằng tâm lý mổ cho nhanh, mổ an toàn hơn nên gia đình yêu cầu bác sĩ mổ. Do đó, có thể chưa thật cần mổ nhưng bác sĩ cũng mổ, vì nếu cố giữ đẻ thường mà gặp sự cố không may thì gia đình sẽ đổ lỗi cho bác sĩ không chịu mổ. Thực tế đó làm tỷ lệ mổ đẻ tăng trong các năm qua.
Ông Đinh Anh Tuấn, Phó vụ trưởng Vụ Sức khoẻ bà mẹ – trẻ em xác nhận tỷ lệ sinh mổ tăng rõ rệt, gấp 2 – 3 lần so với những năm trước đây; ở thành phố tỷ lệ mổ cao hơn so với tuyến tỉnh, huyện. Một phần do các bệnh viện thành phố tiếp nhận các ca sinh khó, có chỉ định mổ nhiều hơn; bên cạnh đó các yếu tố mổ đẻ do yêu cầu từ phía gia đình sống ở thành phố cũng cao hơn.
Tại sao bác sĩ khuyến khích sinh thường ?
Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến đặc biệt lưu ý, các bà mẹ sinh thường không bị vết sẹo mổ trên bụng và đặc biệt không có vết sẹo ở tử cung. Còn với sinh mổ, sẹo này có thể làm tăng nguy cơ vỡ tử cung cho lần sinh sau. Nếu sẹo mổ không tốt còn khiến thai làm tổ ở đó nên tăng nguy cơ bị rau cài răng lược, thai chết. Trong cuộc mổ cũng có các nguy cơ: chảy máu, tai biến với các cơ quan lân cận: tiêu hoá, tiết niệu, thậm chí nguy cơ rách tử cung phải cắt tử cung, không còn cơ hội mang thai.
“Các bác sĩ luôn khuyến khích và hỗ trợ tối đa để các bà mẹ có thể sinh thường theo đường tự nhiên vì như vậy sẽ giúp hệ hô hấp, phổi của em bé sạch được nước ối, không bị dư nước ối trong phổi”, Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến phân tích.
PGS-TS Lưu Thị Hồng, nguyên Vụ trưởng Vụ Sức khoẻ bà mẹ – trẻ em chia sẻ, khi sinh thường các bé sẽ phải qua “cửa ngõ” hẹp để ra bên ngoài, quá trình đó giúp “ép” sạch nước ối ra khỏi cơ thể, đặc biệt là làm sạch hệ hô hấp. Việc này rất quan trọng vì tránh nguy cơ suy hô hấp cho bé do nhiễm nước ối. Nguy cơ này cao hơn ở trẻ sinh mổ.
Ông Đinh Anh Tuấn cho biết thêm, tai biến do mổ đẻ cao hơn mổ thường. Đặc biệt, mổ đẻ vẫn có thể bị tắc mạch ối. Sau mổ đẻ, tuỳ thuộc vào thể trạng, trình độ phẫu thuật viên, sản phụ vẫn có nguy cơ nhiễm trùng, dính ruột… Em bé cũng chậm được bú mẹ bởi sau mổ, mẹ phải uống kháng sinh, ảnh hưởng đến chất lượng sữa. Do đó, rất sai lầm khi cho rằng sinh mổ mẹ không phải chịu cơn đau, thời gian đẻ mổ “nhanh” hơn nên an toàn hơn.

Nam Sơn

Nguồn: TNO