Thừa cân, béo phì là gì?

2,1 tỷ người trên thế giới (chiếm gần 30% dân số) đang phải sống chung với những “phiền toái” của thừa cân, béo phì. Thừa cân, béo phì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vóc dáng, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ và chất lượng cuộc sống.

157

Thừa cân, béo phì là tình trạng tích lũy năng lượng dư thừa dưới dạng mỡ trắng, ảnh hưởng đến vóc dáng và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính.

Nội dung

Tế bào mỡ trắng là gì:

Tế bào mỡ trắng hình ảnh minh họa
Tế bào mỡ trắng hình ảnh minh họa

Chứa đầy triglyceride (acid  béo và glycerol) đẩy nhân tế bào lệch sang một bên, tạo hình giống chiếc nhẫn, kích thước dao động từ 25 đến 200 micron.

Giúp dự trữ năng lượng cho cơ thể, cách nhiệt và là vùng  đệm cơ học.

Tế  bào mỡ trắng có thể tăng về kích thước lên gấp 20 lần so với ban  đầu song song với sự gia tăng về số lượng.

Tại sao mỡ  trắng gây tăng cân?

Nghiên cứu cho thấy, mỡ trắng chiếm tỉ lệ “áp  đảo” với 93  – 97%  tổng lượng mỡ cơ thể.  Còn  loại mỡ thứ hai là mỡ nâu có chức năng sinh nhiệt, được coi là loại “mỡ tốt” lại chỉ chiếm 3 – 7% và rất ít khả năng tăng lên.

Tế bào mỡ trắng có thể tăng kích thước gấp 20 lần song song với sự gia tăng về số lượng do sản sinh mới.
Tế bào mỡ trắng có thể tăng kích thước gấp 20 lần song song với sự gia tăng về số lượng do sản sinh mới.

Trung bình  một  người  có tới 10  – 30  tỷ tế bào mỡ trắng, chúng được  ví như  vô số  “chiếc  túi cao su” có thể  co giãn để hấp thụ và “giữ” đầy các hạt mỡ bên trong  làm tăng sinh  bất thường kích  thước  khối  mỡ  trắng. Điều  này  lý giải tại sao một người có trọng  lượng 50 – 70kg  nhưng khi  “phát   phì” có thể  lên tới hơn  100kg, thậm chí là 200  – 400kg.

Mặc dù có vai trò dự trữ năng lượng nhưng khi tích tụ quá mức mỡ trắng sẽ gây ra những tác động xấu lên các chức năng của cơ  thể. Bởi vậy, mỡ trắng bị xem  là “mỡ xấu”  khi tích  tụ quá mức.

Nguyên nhân nội sinh (chỉ chiếm 10%): do gen di truyền hoặc các  bệnh lý rối loạn nội tiết và chuyển hóa.

Nguyên nhân ngoại sinh (chiếm đến 90%): do năng lượng  đưa vào cao hơn năng lượng tiêu hao trong một thời  gian dài.  Cụ thể là chế độ dinh dưỡng thừa năng lượng (ăn nhiều chất béo, bột đường; thói quen ăn vặt, ăn  khuya…) kết hợp với lối sống ít vận  động.

Các cách xác định thừa cân, béo phì

Chỉ số Nam Nữ
BMI=  Cân nặng (kg) /Chiềucao(m) x Chiềucao(m) Công thức tính BMI BMI> 23: Thừa  cân BMI> 25: Béo  phì (Tiêu  chuẩn Châu Á)
Tỉ lệ WHR = =Vòng eo(cm) /mông (cm)
Waist Hip Ratio  (Chỉ số  vòng eo/  vòng mông)
WHR > 0,9 WHR> 0,8
Tỉ lệ mỡ cơ thể(theo n điện tử chuyên đo khối mỡ) Trên  25% Trên  30%

Hậu quả của thừa cân béo phì:

Về tâm lý: Người thừa  cân, béo phì thường mất tự tin trong giao tiếp, ngại xuất hiện trước đám đông, hay tự ti, căng thẳng, chậm chạp, kém   linh  hoạt trong   đời  sống hàng ngày… làm giảm sút hiệu quả công việc, hạn chế sự cống hiến cho gia đình và xã hội.

Về  ngoại hình: Thừa cân, béo phì làm thay đổi vóc dáng, khiến cơ thể  trở nên “quá khổ”. Nghiên cứu cho thấy 88% những người thừa cân, béo phì thấy rằng mình không hấp dẫn khi  mất đi sự thon thả và những đường cong.

Về sức khỏe: Các nghiên cứu y khoa cho thấy, những người bị tăng cân và đang gặp tình trạng thừa cân, béo phì sẽ có tỉ lệ bệnh tật cao hơn ở người bình thường, đặc biệt là các bệnh mạn tính nguy hiểm:

Tim mạch: Cholesterol tỷ trọng  thấp (LDL-C) sẽ bám vào lòng mạch máu gây xơ hóa  mạch, làm  tăng huyết áp. Đồng  thời  tình trạng hẹp lòng mạch do mỡ bám sẽ làm  tắc  nghẽn dẫn đến đột quỵ,  nhồi máu cơ tim.

Hô hấp: Mỡ bám vào cơ hoành làm thông khí giảm, người  béo thở nông, thở nhanh. Người béo dễ bị ngủ ngáy, rối loạn nhịp thở, béo phì độ III có thể dẫn đến cơn ngừng thở khi ngủ.

Tiểu  đường: Các khối  mỡ,  đặc biệt mỡ ở bụng, bài  tiết ra yếu tố đề kháng Insulin là nguyên nhân gây ra tiểu đường type II ở người thừa cân, béo phì.

Nội tiết: Con gái béo phì thường rối loạn kinh nguyệt, béo phì độ II thường mất kinh. Phụ nữ béo phì khó có thai,  đẻ khó.  Đàn ông béo phì, đặc biệt béo bụng thường yếu  sinh  lý.

Xương khớp: Người thừa cân, béo phì dễ bị thoái  hóa  khớp, loãng xương, đau  nhức  triền miên do trọng  lượng cơ thể gây áp lực lên xương khớp.  Trong đó,  khớp gối, cột sống tổn thương sớm nhất. Chưa kể do ăn  uống không hợp lý, rối loạn chuyển hóa làm tăng Acid uric nên người  thừa cân béo phì dễ mắc bệnh gút.

Tiêu  hóa:  Thừa cân, béo phì còn  khiến  mỡ bám vào các quai ruột nên bệnh nhân thường bị táo bón,  dễ sinh ra bệnh trĩ. Sự ứ đọng phân và các sản phẩm độc hại  dễ  sinh ung  thư đại tràng. Mỡ bám vào gan dễ gây gan nhiễm mỡ, xơ gan. Ngoài  ra, rối loạn chuyển hóa  mỡ sinh ra sỏi mật.

Da: Thừa cân, béo phì gây lão hóa da sớm nên người béo thường già trước tuổi. Nếu vòng eo  > 90cm và đường huyết cao thường xuất hiện gai đen ở vùng  cổ, háng, khuỷu tay và rạn  da.

Béo phì  và  ung  thư:  Một số nghiên cứu đã cho thấy sự liên quan giữa béo phì và ung thư như: ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư đại tràng, ung thư gan mật và ung thư  tuyến tiền liệt.

Béo phì  làm  suy giảm trí  nhớ:  Thừa cân, béo phì  khiến trẻ  em  học  kém  và  người lớn mất  tập  trung, dễ  bị Alzheimer.

Những ai dễ bị béo phì 

  • Người có thói quen dùng thức ăn năng lượng cao, nhiều chất béo.
  • Người làm việc  văn  phòng, ít vận  động thể  lực.
  • Phụ nữ sau khi sinh.
  • Nam, nữ tuổi trung  niên.
  • Người có cha  mẹ  bị béo phì.
  • Dân  cư sống tại đô thị.

Tiếp Theo: Nguyên tắc vàng giúp giảm cân an toàn

Comments