Phác đồ chẩn đoán và điều trị bệnh gút

PHÁC ĐỒ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH GÚT

(Từ đồng nghĩa:  gout, thống phong)

  1. ĐỊNH NGHĨA :

Gút là tình trạng viêm do lắng đọng tinh thể monosodium Urate (MSU) tại mô mềm và tại khớp

  1. BỆNH SINH :

Tăng acid uric khi mức vượt > 6,8mg%. Cơ thể con người mỗi ngày tạo ra 250-750mg acid uric, do purine từ thức ăn và chuyển hóa cơ thể tạo ra. Khi acid uric tăng cao sẽ lắng đọng tinh thể tại mô gây ra tình trạng viêm.

Tăng acid uric do mất cân bằng giữa tiết chế ăn uống, sự tổng hợp và sự bài tiết acid uric

III.   YẾU TỐ NGUY CƠ :

Yếu tố nguy cơ nam giới, nữ sau mãn kinh, yếu tố di truyền, bệnh thận giai đoạn cuối, ghép tạng. Tầng suất tăng theo tuổi, từ 0,1 8% từ tuổi< 45 đến 3,08% tuổi >65. Cao huyết áp, béo phì, uống nhiều rượu bia là các yếu tố nguy cơ thường gặp. Thuốc lợi tiểu thiazid, aspirin liều thấp

CHẨN ĐOÁN :

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút

*Hiện diện tinh thể urate trong dịch khớp, hoặc tophi chứa tinh thể urate dùng phương pháp hóa học hoặc dùng kính hiển vi lương cực.

* Hoặc có 6 trong 12 tiêu chuẩn sau:

–    Trên 1 cơn viêm khớp gút cấp
–    Viêm tối đa phát triển trong vòng 1 ngày
–    Viêm 1 khớp
–    Đỏ khớp
–    Khớp bàn ngón 1 chân đau và sưng
–    Viêm khớp 1 bên khớp bàn ngón chân 1
–    Viêm 1 bên khớp liên quan với khớp cổ chân
–    Nghi ngờ tophi
–    Tăng a. uric máu
–    Hình ảnh X-quang sưng 1 bên khớp
–    Nang dưới vỏ xương với không hình ảnh bào mòn trên vỏ xương trên vỏ xương
–    Cấy vi trùng âm tính trong gGiai đoạn viêm gút cấp.

  1. PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ:

Phác đồ điều trị 2014 – Khoa Ngoại Chấn Thương Áp  dụng  12  chứng  cớ  điều  tri  theo  hội  thấp  khớp  Châu  âu  EULAR  2008  (the European League Against Rheumatism)

  1. Áp dụng phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc phù hợp với yếu tố nguy cơ
  2. Giáo dục bệnh nhân và thay đối lối sống ( giảm cân và giảm rượu bia)
  3. Nhận ra bệnh lý đi kèm: cao huyết áp, tăng đường huyết, tăng lipìd máu, béo phì và hút thuốc.
  4. Uống colchicin và/hoặc NSAID là thuốc đầu tiên cho cơn gút cấp
  5. Liều thấp colchicme có thể đủ cho 1 số bệnh nhân với cơn gút cấp (liều cao có thể có tác dụng phụ)
  6. Hút dịch và chích khớp corticoid tác dụng dài có thề an toàn và hiệu quả cho cơn gút cấp
  7. Thuốc giảm acid uric cho cơn gút tái phát, bệnh khớp, tophi có thay đổi hình ảnh X-quang do bệnh gút
  8. Mục tiêu điểu trị là giảm uric máu < 6,8mg %
  9. Thuốc allopurinol cho điều trị lâu dài với liều 100mg khởi đau và tăng dần liều mỗi 2-4 tuần.
  10. Thuốc tăng thải uric (probenecid,…) là thuốc thay thế cho allopurinol, chỉ dùng khi chức năng thận bình thường (chống chỉ định sỏi thận).
  11. Phòng ngừa cơn gút cấp trong những tháng đầu tiên của điều trị giảm uric máu bao gồm cochicin và/hoặc NSAID.
  12. Bệnh gút liên quan đến điều trị thuốc lợi tiểu. Thì ngưng thuốc lợi tiểu; losartan và fenogibrate thì điều trị cho tăng huyết áp và tăng lipid máu.

 

Giai đoạn Mục tiêu Loại thuốc Điều trị tăng acid uric Thời gian
gút
 

Cơn cấp

 

 

 

 

Điều trị đau

 

Colchicine,

 

Không

 

1-2 tuần

NSAIDs,
glucocorticoids
(chích khớp,
uống, hoặc
chích)
 

 

Trung gian

 

Phòng ngừa cơn bùng phát

 

Colchicine,

 

 

Không

 

Thời gian cho đến khi giảm acid uric <6mg%

NSAIDS
 

Kinh niên

 

Phòng ngừa tiến triển bệnh mục tiêu là duy trì  acid uric

<6mg%

 

 

Thuốc giảm

 

Thời gian dài
acid uric máu

Nguồn bài viết
Phác đồ điều trị 2014 – Khoa Ngoại Chấn Thương

Nước ngọt – nguyên nhân gây bệnh gút

Ngoài bia rượu là nguyên nhân gây nên bệnh gút ra, ít ai biết đến nước ngọt cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho bệnh gút gia tăng, theo những nghiên cứu gần đây, đồ uống có chứa đường Fructoza làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh gout ở cả nam lẫn nữ.

Càng gia tăng việc uống nước ngọt 2 tới 3 lần một ngày thì càng làm tăng thêm nguy cơ bị bệnh gout của người tiêu dùng. Phát hiện của nhóm nghiên cứu được đăng tải trực tuyến trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ.
Càng gia tăng việc uống nước ngọt 2 tới 3 lần một ngày thì càng làm tăng thêm nguy cơ bị bệnh gout của người tiêu dùng. Phát hiện của nhóm nghiên cứu được đăng tải trực tuyến trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ.

Các loại nước ngọt trên thị trường tiềm ẩn một lượng đường Flutoza nhiều hơn mức cần thiết, báo hiệu một xu hướng ăn uống có thể dẫn tới những chứng bệnh về khớp, bệnh gout, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tránh được, theo Martin Underwood  làm  việc  tại  đại  học  University  of  Warwick Medical  School,  ở Coventry, Anh, người không tham gia vào nghiên cứu này, gia tăng tỉ lệ mắc bệnh gout cũng đồng nghĩa với việc gặp nhiều rủi ro hơn cho những người mắc bệnh tim mạch.

Bệnh gout phát triển khi máu trở nên bão hòa với axít uric, một sản phẩm phân hủy của purines, đó là một thành phần của nhiều loại thực phẩm, đặc biệt là thịt màu đỏ và nội tạng của gia súc. Khi axít uric kết tủa vào các khớp và kết tinh, nguyên nhân gây ra các cơn đau dữ dội và dai dẳng. Các nhà nghiên cứu xem xét mức độ tăng nghiêm trọng của lượng axít uric trong máu, hoặc nồng độ axít uric trong máu tăng cao, dấu hiệu đặc trưng của bệnh gout.

Hyon Chol làm việc tại the Boston University School of Medicine, Hoa Kỳ và các đồng nghiệp đã báo cáo tại cuộc họp the American College of Rheumatology, ở Atlanta, Hoa Kỳ rằng nồng độ axít uric trong máu tăng cao, dấu hiệu đặc trưng của bệnh gout đang gia tăng cùng với độ tuổi và đang hành hạ khoảng 31% những người già trên 65 tuổi ở Hoa Kỳ, ước tính khoảng 8,4 triệu người,  theo khảo sát  gần  đây  nhất của  the  most recent National Health and Nutrition Examination Survey, trong đó phỏng vấn và khám sức khỏe cho hơn 24.000 người trưởng thành được lựa chọn, để cung cấp một phần đại diện chéo của người dân Hoa Kỳ.

Phụ nữ thường hiếm khi bị bệnh gout trước thời kỳ mãn kinh, bởi tác dụng điều hòa, giữ mức axít uric thấp trong cơ thể của các hormone sinh dục nữ. Nhưng sau khi mãn kinh, phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh gout tăng lên đến khoảng ½ tỷ lệ ở nam giới lớn tuổi của Mỹ, theo Hyon Choi.

Trong thập kỷ vừa qua, nhóm nghiên cứu của Choi đã phát hiện ra một loạt các tác nhân gây ra bệnh gout. Hai năm trước, Choi và Gary Curhan, làm việc tại Harvard Medical School, Hoa Kỳ, đã tìm ra mối liên hệ giữa nguy cơ của bệnh gout ở nam giới với mức tiêu thụ đường fructose khá cao, loại đường chủ yếu có mặt trong tất cả các đồ uống ngọt, có đường hiện nay. Các nhà nghiên cứu chỉ ra, đường fructose kích thích sản xuất axít uric từ phân tử adenosine triphosphate, vốn đóng vai trò lưu trữ và vận chuyển năng lượng.

Dựa trên dữ liệu thu thập được từ khoảng 79.000 người tham gia nghiên cứu sau mãn kinh của the long-running Nurse’s Health Study, nhóm nghiên cứu nhận thấy, những phụ nữ uống nước ngọt đóng chai mỗi tháng một lần sẽ có ít nguy cơ mắc bệnh gút hơn những phụ nữ không uống nước ngọt.

Dựa trên dữ liệu thu thập được từ khoảng 79.000 người tham gia nghiên cứu sau mãn kinh của the long-running Nurse’s Health Study, nhóm nghiên cứu nhận thấy, những phụ nữ uống nước ngọt đóng chai mỗi tháng một lần sẽ có ít nguy cơ mắc bệnh gout hơn những phụ nữ không uống nước ngọt.
Dựa trên dữ liệu thu thập được từ khoảng 79.000 người tham gia nghiên cứu sau mãn kinh của the long-running Nurse’s Health Study, nhóm nghiên cứu nhận thấy, những phụ nữ uống nước ngọt đóng chai mỗi tháng một lần sẽ có ít nguy cơ mắc bệnh gout hơn những phụ nữ không uống nước ngọt.

Càng gia tăng việc uống nước ngọt 2 tới 3 lần một ngày thì càng làm tăng thêm nguy cơ bị bệnh gout của người tiêu dùng. Phát hiện của nhóm nghiên cứu được đăng tải trực tuyến trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ.

Tại Hoa Kỳ, các nhà sản xuất nước giải khát gần như không có thay đổi gì, họ vẫn sản xuất siro bắp với nồng độ đường flucose khá cao, không giống như đường   ăn   bình   thường   với   sự   kết   hợp   50:50   của   đường   fructose   và glucose, siro bắp chứa đơn thuần đường fructose mà thôi. Mặc dù, ngành công nghiệp siro bắp đã lập luận rằng với tỉ lệ fructose:glucose tương ứng 55:45, sẽ không dẫn tới bệnh béo phì. Nhóm nghiên cứu của Michael Goran đến từ đại học University of Southern California’s Keck School of Medicine, ở Los Angeles, Hoa Kỳ, đã thu thập mẫu của 23 loại đồ uống có đường khác nhau dưới dạng đóng hộp, đóng chai và 6 mẫu soda . “Tất cả các loại nước ngọt”, theo báo cáo của nhóm nghiên cứu của Michael Goran, “với ngoại lệ của Mexico Coca-Cola, có chứa hơn 58% đường fructose, và 3 loại nước giải khát phổ biến nhất (Coke, Pepsi và Sprite) chứa 64-65% đường fructose.” Đây là vấn đề phiền toái, Goran nói, bởi vì không giống như glucose, đường fructose là chủ yếu được chia nhỏ trong gan, nơi nó có thể trở thành một nguyên liệu để tổng hợp chất béo mới. Thật vậy, theo khuyến cáo của các nhà sinh lý dinh dưỡng học, đường fructose bị cho là góp phần làm nghiêm trọng và phát sinh bệnh gan nhiễm mỡ.

Điểm mấu chốt, Underwood nói, đó là giảm đường fructose trong chế độ ăn, đặc biệt là bạn đừng uống nước ngọt nhiều quá, để hạn chế rủi ro về sức khỏe gây ra bởi những thức uống đóng chai có đường

Nguồn: Ts Phạm Thi Dung

Tăng acid uric máu và bệnh gút

Bệnh gút là bệnh rối loạn chuyển hóa có liên quan đến việc tăng sản xuất hoặc giảm đào thải acid uric trong cơ thể, làm lắng đọng các tinh thể urat tại màng khớp và các tổ chức xung quanh khớp gây nên phản ứng viêm.

Liên quan giữa tăng acid uric máu và bệnh gút
Liên quan giữa tăng acid uric máu và bệnh gút

Do vậy, các nghiên cứu về tăng acid uric máu thường được gắn liền với việc xác định tỷ lệ mắc bệnh gút. Tăng acid uric máu là yếu tố nguy cơ trực tiếp của bệnh gút.

Tuy nhiên, chỉ có dưới 10% đối tượng tăng acid uric máu có biểu hiện gút phải điều trị. Và người ta cũng thấy có khoảng 30% bệnh nhân gút cấp có nồng độ acid uric máu bình thường.

Mức acid uric máu càng cao thì nguy cơ mắc bệnh gút càng cao. Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ acid uric và nguy cơ bùng phát cơn gút cấp, một nghiên cứu tại Mỹ cho biết nguy cơ bị bệnh gút tăng 2,1 lần ở nhóm có nồng độ acid uric từ 6-8,99mg/dl so với nhóm <6mg/dl.

Nguy cơ này tăng lên 3,4 lần khi nồng độ acid uric trên 9mg/dl. Với xu hướng tăng nồng độ acid uric máu trung bình trong hơn 2 thập kỷ qua thì bệnh gút cũng đang ngày càng có xu hướng trẻ hoá. Một số nghiên cứu tại bệnh viện cũng cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa nồng độ acid uric máu và nguy cơ bùng phát cơn gút cấp.

Nhiều nghiên cứu đang tiếp tục phát triển trong nhiều lãnh vực liên quan với gút và tăng acid uric trong máu. Mới đây những nhà khoa học cho rằng, ăn nhiều protit động vật làm tăng nhẹ nguy cơ bịnh gút. Những nghiên cứu khác thì cho rằng chế độ ăn nhiều canxi giúp tránh được những cơn gút. Những thuốc mới làm gia tăng thải acid uric trong nước tiểu (như benzbromarone) đang được đánh giá trong những thử nghiệm lâm sàng trên bịnh nhân. Việc áp dụng những thuốc này để điều trị những cơn gút cấp và mãn thì vẫn còn cần phải nghiên cứu thêm nữa. Những nhà khoa học sẽ tiếp tục phát triển các thuốc ít độc và hiệu quả hơn trong việc chống lại căn bệnh do “trừng phạt của tuổi tác gây ra” này.

Acid uric máu là gì ?

Acid uric máu (axit uric) là sản phẩm được tạo thành do sự phân hủy các tế bào trong cơ thể và từ thức ăn (chứa purin). Hầu hết acid uric được lọc qua thận và đào thải qua nước tiểu, chỉ một phần nhỏ qua phân.

Acid uric máu hình ảnh minh họa
Acid uric máu hình ảnh minh họa

Theo định nghĩa trên wikipedia  Uric acid là một hợp chất dị vòng của cácbon, nitơ, ôxi, và hyđrô với công thức C₅H₄N₄O₃. Nó tạo thành các ion và muối được gọi là urat và acid urat như amoni acid urate. Wikipedia

Điểm nóng chảy: 300 °C
Công thức: C5H4N4O3
Khối lượng phân tử: 168,1103 g/mol
ID IUPAC: 7,9-Dihydro-1H-purine-2,6,8(3H)-trione
Mật độ: 1,87 g/cm³
Có thể hòa tan trong: Nước
Acid uric trong máu tăng cao gây lắng đọng tinh thể hình kim tại khớp và gây gout cấp. Nếu không điều trị, acid uric có thể lắng đọng ở các mô và hình thành hạt tophi. Ngoài ra, Acid uric tăng cao cũng gây sỏi thận và suy thận.

Thông thường nồng độ acid uric tương đối ổn định, nhưng nếu acid uric trong máu hình thành quá nhiều hoặc chức năng đào thận thận suy giảm gây tăng acid uric trong máu.

2. Nguyên nhân gây tăng acid uric máu:

Tăng axit uric máu có thể do:
+ Tăng tổng hợp axit uric máu: có thể do ăn nhiều thức ăn có chứa purin, tăng tổng hợp purin nội sinh, tăng thoái biến nucleotite hoặc
phối hợp.
+ Giảm bài tiết axit uric qua thận: có thể do giảm lọc ở cầu thận, giảm tiết urat ở ống thận hoặc phối hợp.
+ Phối hợp 2 nguyên nhân kể trên.

3. Khi nào cần làm xét nghiệm acid uric máu

– Chuẩn đoán gout

– Chuẩn đoán sỏi thận urat (do acid uric máu tăng cao gây lắng đọng tại thận).

– Đánh giá tác dụng của thuốc điều trị giảm acid uric

– Kiểm tra nồng độ acid uric trên bệnh nhân ung thư điều trị liệu pháp hóa học trị liệu hoặc phóng xạ. Điều trị ung thư gây chết tế bào và làm tăng acid uric trong máu.

Đánh giá kết quả acid uric trong máu

Chi số acid uric ở ngưỡng an toàn:

– Nam: dưới 420 µmol/l (7mg/dl

– Nữ: dưới 360 µmol/l (6mg/dl)

4. Acid uric máu lắng đọng như thế nào 

Cơ chế lắng đọng axit uric.

Cơ chế chủ yếu là do tăng axit uric máu kéo dài, cơ thể có hàng loạt phản ứng thích nghi nhằm giảm axit uric trong máu bằng cách: tăng bài tiết qua thận, lắng đọng muối urat trong các tổ chức như: màng hoạt dịch, da, kẽ thận, gân… Dẫn đến sự biến đổi về hình thái học các tổ chức này.

Tăng axit uric trong dịch khớp dẫn đến kết tủa thành các tinh thể hình kim gây tổn thương sụn, màng hoạt dịch, bao khớp. Qua chỗ sụn bị tổn thương các tinh thể xâm nhập xuống tận lớp xương dưới sụn, hình thành các hạt tophi, gây phá huỷ xương dưới dạng ổ khuyết xương hình cầu. Viêm màng hoạt dịch, tăng sinh màng hoạt dịch, thâm nhiễm các tế bào lympho là tổn thương thứ phát.

Sự lắng đọng các tinh thể ở tổ chức tạo thành các hạt tophi kích thước to nhỏ khác nhau.
Sự lắng đọng các tinh thể ở tổ chức tạo thành các hạt tophi kích thước to nhỏ khác nhau.

Sự lắng đọng các tinh thể ở tổ chức tạo thành các hạt tophi kích thước to nhỏ khác nhau. Lắng đọng tinh thể urat ở kẽ thận dẫn đến tổn thương thận như sỏi thận, viêm thận kẽ, xơ hóa cầu thận. Tổn thương lan rộng dẫn đến suy thận, tăng huyết áp. Đây là yếu tố tiên lượng quan trọng.

5 Tăng acid uric có bị bệnh gút không ?

Tăng acid uric chỉ ra có liên quan đến tăng nguy cơ về gút, nhưng mối liên hệ giữa 2 yếu tố này chưa rõ ràng. Nhiều bệnh nhân có tăng acid uric nhưng không phát triển gút trong khi những người khác có gút tái đi tái lại nhiều lần nhưng không có tăng acid uric trong máu. Dân số nam của Mỹ có đến 10% là tăng acid uric trong máu.

Tuy nhiên, chỉ một số nhỏ những bệnh nhân này bị gút.

6. Những yếu tố nguy cơ đối với viêm khớp trong gút là gì ?

Ngoài yếu tố vận chuyển bất thường acid uric trong máu là do di truyền, những yếu tố khác là béo phì, quá trọng, đặc biệt là những người trẻ, uống rượu trung bình đến nặng, cao huyết áp và chức năng thận bất thường. Những thuốc như lợi tiểu thiazide, aspirin liều thấp, niacin, cycloporine, thuốc lao (pyrazinamide và ethambutol) và những thuốc khác cũng làm tăng cao acid uric trong máu và dẫn đến bịnh gút. Hơn nữa, những bịnh mà dẫn đến sự tạo thành acid uric thái quá trong cơ thể, ví dụ như bịnh bạch cầu, lymphoma, và những rối loạn về hemoglobin cũng có nguy cơ xuất hiện gút. Một điều lý thú là những nghiên cứu mới đây chứng minh có sự gia tăng những người bị gút có mức hocmon tuyến giáp thấp.

7/ Làm gì khi acid uric máu tăng

Một trong những biện pháp quan trọng để giảm nồng độ axit uric và phòng ngừa bệnh gút tái phát là người bệnh nên dùng các thực phẩm không hoặc ít có nhân purin, từ đó giảm tổng hợp axit uric, đồng thời uống nhiều nước (đặc biệt nước khoáng kiềm), giúp tăng cường đào thải axit uric qua đường tiết niệu.

dùng các thuốc Tây y như colchicin hay thuốc allopurinol để ức chế khả năng lắng đọng của acid uric làm giảm các cơn gút cấp để giảm nhanh triệu chứng đau, sau đó dùng bổ sung lâu dài các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ để hỗ trợ điều trị, giảm đau và phòng ngừa tái phát cơn gút cấp.

Tìm thuốc nhanh

Tăng Acid Uric không chỉ mắc bệnh gút

Tăng acid uric máu là do rối loạn chuyển hoá purine.  Acid uric là sản phẩm chuyển hóa proteins. Axit Uric sẽ tích tụ trong máu khi quá dư thừa hoặc khi bài tiết kém qua nước tiểu.

Acid uric là sản phẩm chuyển hóa proteins. Acid Uric sẽ tích tụ trong máu khi quá dư thừa hoặc khi bài tiết kém qua nước tiểu.
Acid uric là sản phẩm chuyển hóa proteins. Acid Uric sẽ tích tụ trong máu khi quá dư thừa hoặc khi bài tiết kém qua nước tiểu.

Theo bác sĩ Hồng Ánh, việc tăng acit uric máu có thể gây tổn thương ở nhiều cơ quan. Nếu chúng kết tủa và lắng đọng ở tim mạch thì gây viêm mạch máu, viêm màng ngoài tim; ở vùng đầu gây ra viêm kết mạc, viêm mống mắt, viêm tuyến mang tai, viêm màng não. Nếu kết tủa ở vùng sinh dục, các tinh thể uric gây viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt. Ở thận, chúng gây sỏi urat…

Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là bệnh gút, do axit uric kết tủa thành sạn trong khớp, dẫn đến hiện tượng viêm khớp (sưng, nóng, đỏ, đau) tái phát nhiều lần trong suốt đời. Khi mới bị, cơn đau rất thưa, cách 6 tháng, 1-2 năm hay hơn nữa. Nhưng sau vài năm, cơn đau sẽ ngày càng gần lại, dẫn đến biến dạng khớp ở bàn tay, bàn chân… Theo một nghiên cứu tại Hà Lan trong năm qua, người ta ghi nhận những bệnh nhân gút tuổi trung niên thường dễ bị tăng huyết áp (nguy cơ 43%), tăng cholesterol trong máu (5%) và tiểu đường (hơn 50%). Vì thế, các chuyên gia về khớp có một nhìn nhận mới: gút là dấu hiệu sớm của các bệnh tim mạch!

Chứng tăng axít uric máu

Chứng tăng axit uric máu (trên 416 mmol/l) thông thường gặp ở người cao tuổi, tuy nhiên thỉnh thoảng gặp ở những lứa tuổi khá. Trước đây, người ta cho rằng, tăng axit uric máu chỉ gặp ở người mắc bệnh gút (gout), nhưng thực ra, chứng này còn có thể xuất hiện trong một số bệnh khác nhau.

Tăng axit uric máu là do rối loạn chuyển hoá purine. Bình thường axit uric được tạo ra trong quá trình chuyển hoá các axit nhân của mọi tế bào trong cơ thể và được đào thải ra ngoài chủ yếu bằng nước tiểu. Ở người bình thường, hai quá trình tạo ra và đào thải axit uric luôn luôn được cân bằng và duy trì ở mức từ 143 – 416 mmol/lít. Vì một lý do nào đó, quá trình chuyển hoá purine bị rối loạn sẽ gây tăng axit uric trong máu

NGUYÊN TẮC CỦA CHẾ ĐỘ ĂN KIÊNG

Giảm thức ăn sản sinh acid uric

Tránh ăn:

  • Nội tạng động vật: món ức cừu, bê, bầu dục (cật), gan, óc động vật, lòng lơn, tim và lưỡi động vật.
  • Thịt lợn ướp
  • Thịt sấy
  • Một số loại cá: cá mòi, cá hộp, cá trồng, cá hồi song, cá chép, cá chó, cá thu, cá ngừ,
  • Các loài thân mềm: sò huyết, ốc sên, mực, ốc
  • Các loài thân giáp: cua, tôm và tôm hùm.

Cần giảm ăn thịt

Không loại rau nào gây tăng axit uric bởi vì chất purin trong rau quả không chuyển hóa thành axit uric.

2. Tăng bài tiết nước tiểu: Bài tiết nước tiểu càng tăng thì axit uric lọc qua thận càng tốt.

Cần uống nhiều nước (2 đến 3 lít/ngày) bạn có thể tính lượng nước cần uống của cơ thể tại đây

3. Tránh ăn các loại thức ăn gây cơn Gút cấp:

Một số loại thức ăn không mang axit uric nhưng thông qua cơ chế phức tạp của cơ thể chúng ta có thể gây ra những cơn Gút cấp:

  • Rượu (chất cồn)
  • Sô cô la, nấm
  • Các loại mỡ nói chung
Chế độ ăn trong bệnh Gút (tăng axit uric)

Sử dụng thức ăn ít chứa nhân purin như ngũ cốc, các loại hạt, bơ, mỡ, đường, trứng, sữa, phomat, rau quả. Hạn chế thực phẩm thịt, cá, hải sản, gia cầm, óc, gan, bầu dục, đậu đỗ.

* Bỏ rượu, thức uống có rượu, bia, cà phê, chè.

* Không giảm cân quá nhanh cho người béo quá mức (cần giảm từ từ).

* Uống đủ nước (nhưng không dùng cà phê, chè).

Thực đơn mẫu cho bệnh nhân bị Goutte cấp tính.

– Tổng năng lượng đưa vào: 1600 kcal/ngày, cho người nặng 50 kg.

– Đạm 15% (0,8g/kg) = 40g = 160kcal

– Chất béo: 20% = 35g = 315 kcal

– Bột – đường: 65% = 300g=”1200″ kcal

– Rau quả: tự do

Thực đơn lâu dài cho bệnh Goutte

Như chế độ thông thường nhưng cần lựa chọn thức ăn; hạn chế thức ăn nhiều

purin; protein không quá 1g/kg cân nặng. Như vậy thì đạm động vật và đậu đỗ

không nên quá 100 gam/ ngày.

Hàm lượng purin trong 100g thức ăn có thể tham khảo như sau:

Nhóm I (0-15 mg)

Nhóm II (50-150mg)

Nhóm III (trên 150 mg)

– Ngũ cốc

– Bơ, mỡ

– Đường

– Trứng

– Sữa

– Phomat

– Rau, quả

– Hạt

– Thịt

– Cá

– Hải sản

– Gia cầm

– Đỗ, đậu

-óc

– Gan

– Bầu dục

– Cá sarrdin

– Nước dùng thịt

– Nấm

– Măng tây

Nhóm IV: Thức uống có khả năng gây đợt gout cấp

– Rượu, thức uống có rượu

– Bia (biacó purin)

– Cà phê, chè (có chứa methyl purin khi bị oxy hoá sẽ tạo thành methyl acid uric)

Chúng ta nên tới các cơ sở khám chữa bệnh có thiết bị tốt để kiểm soát acid uric trong máu. Các thiết bị các nhân, cầm tay để kiểm tra chỉ số acid uric chỉ cho các bạn một con số ước lượng chứ không phải một con số hoàn toàn chính xác cũng như thông báo cho bạn biết tình trạng của bệnh gút.

Thuốc điều trị bệnh gút theo phác đồ điều trị của Bộ Y Tế

Các thuốc điều trị bệnh gút(gout) theo phác đồ điều trị của BỘ Y TẾ được trích từ Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh cơ xương khớp xuất bản nằm 2016 nhằm cung cấp cho bệnh nhân gút (gout) tham khảo. 

Thuốc chống viêm:

+ Thuốc Colchicin:

Thuốc Colchicine

Với mục đích chống viêm, giảm đau trong cơn gút cấp hoặc đợt cấp của gút mạn tính:  theo quan điểm mới colchicin không nên sử dụng liều cao vì có tác dụng không mong muốn. Nên sử dụng liều 1mg/ngày, nhưng cần dùng càng sớm càng tốt (trong vòng 12 giờ đầu khởi phát cơn gút). Phối hợp với một thuốc nhóm chống viêm không steroid nếu không có chống chỉ định của thuốc này) để đạt hiệu quả cắt cơn gút.

Trường hợp bệnh nhân có chống chỉ định với chống viêm không steroid, colchicin dùng với liều 1mg x 3 lần trong ngày đầu tiên (có thể cho 0,5mg cách nhau 2 giờ một lần, nhưng tối đa không quá 4mg), 1 mg x 2 lần trong ngày thứ 2, 1mg từ ngày thứ 3 trở đi. Thông thường sau 24-48 giờ sử dụng, triệu chứng tại khớp sẽ giảm nhanh.

Test colchicin: hai ngày đầu: 1mg x 3 lần; triệu chứng tại khớp sẽ giảm nhanh sau 48 giờ. Tuy nhiên, sau 48 giờ thường có tiêu chảy, cần kết hợp một số thuốc như loperamid 2 mg ngày 02 –viên, chia 2 lần nhằm kiểm soát triệu chứng này.

Dự phòng tái phát: 0,5- 1,2 mg uống 1-2 lần/ ngày, trung bình 1mg/ ngày kéo dài ít nhất 6 tháng. Cần chú ý giảm liều ở bệnh nhân có bệnh thận mạn tính, lớn tuổi (trên 70 tuổi)… Trong trường hợp không sử dụng được bằng cochicine có thể dự phòng bằng các thuốc kháng viêm không steroid bằng liều thấp.

Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID)

Nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAID)
Nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAID)

Có thể dùng một trong các thuốc sau: Indometacin, Naproxen, Ibuprofen, Ketoprofen, Piroxicam, Diclofena, các nhóm thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (meloxicam, celecoxib, etoricoxib…). Lưu ý các chống chỉ định của thuốc này (viêm loét dạ dày tá tràng, suy thận…). Có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với colchicin.

+ Corticoid

Corticoid đường toàn thân được chỉ định khi các thuốc trên không hiệu quả hoặc có chống chỉ định, cần rất hạn chế và dùng ngắn ngày. Đường tại chỗ (tiêm corticoid trực tiếp vào khớp viêm) phải được thực hiện bởi thầy thuốc chuyên khoa cơ xương khớp sau khi loại trừ viêm khớp nhiễm khuẩn.

− Thuốc giảm acid  uric máu

Nhóm thuốc ức chế tổng hợp acid uric:

Thuốc Allopurinol: Liều lượng hằng ngày dựa vào nồng độ acid uric máu. Liều khởi đầu: Allopurinol 100mg/ngày trong vòng 1 tuần, sau đó tăng 200-300mg/ngày. Nồng độ acid uric máu thường trở về bình thường với liều 200-300mg/ngày. Không nên chỉ định trong trong cơn gút cấp mà nên chỉ định khi tình trạng viêm khớp đã thuyên giảm, sau 1-2 tuần sử dụng colchicin. Cần lưu ý tác dụng phụ của allopurinol như sốt, nôn, buồn nôn, đau đầu, ban đỏ ở da, dị ứng… cần theo dõi sát trong những ngày đầu dùng thuốc, thậm chí sau 1-2 tuần dùng thuốc này.

Drug Allopurinol STADA6002PPS0 Bệnh gút mãn tính, chứng tăng acid uric máu thứ phát hay do điều trị bằng tia X hoặc thuốc hóa trị liệu các bệnh lăng bạch cầu và ung thư. Dùng trị bệnh sỏi thận.
Allopurinol 300mg

+      Nhóm thuốc tăng thải acid uric:

Thuốc probenecid dạng lọ
Thuốc probenecid dạng lọ

Probenecid (250mg- 3g/ngày), Sunfinpyrazol (100-800mg/ngày), Benzbriodaron, Benzbromaron… Chỉ định nhóm này cần xét nghiệm acid uric niệu. Chống chỉ định khi acid uric niệu trên 600 mg/24 giờ, suy thận, sỏi thận, người cao tuổi, gút mạn có hạt tophi. Đôi khi có thể dùng phối hợp allopurinol với một loại thuốc tăng đào thải acid uric. Cả hai nhóm thuốc này đều nên chỉ định trong cơn gút cấp.

Lưu Ý: Việc sử dụng các thuốc này nên có sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa – Quý vị không nên tự ý sử dụng

Những hình ảnh biến chứng nguy hiểm bởi bệnh gút

Những hình ảnh sau đây mà chuyên trang Tìm Thuốc Nhanh tổng hợp từ những chuyến đi thực tế có thể sẽ giúp quý vị và các bạn có cái nhìn đúng đắn hơn về những nguy hiểm của bệnh gút.

1 Hình ảnh nhiễm trùng do tophi vỡ: 

Nhiễm khuẩn hạt tô phi là biến chứng thường gặp của gút mạn tính, việc quyết định sử dụng kháng sinh rất quan trọng nhằm tránh diễn biến nặng nề như nhiễm khuẩn huyết.

Hình ảnh bị nhiễm trùng do tophi vỡ
Hình ảnh bị nhiễm trùng do tophi vỡ

Hạt tophi là triệu chứng lâm sàng đặc trưng của gút ở giai đoạn mạn tính do lắng đọng tinh thể urat ở mô mềm dưới da, đặc điểm cấu tạo này khiến hạt tô phi loét vỡ thường khó liền. Tình trạng này có thể gây nhiễm khuẩn tại chỗ và có thể là đường vào của một nhiễm khuẩn huyết. Một trong các mục tiêu điều trị trước mắt của nhiễm khuẩn hạt tô phi là giải quyết tình trạng nhiễm khuẩn, trong đó việc chọn lựa kháng sinh sử dụng rất quan trọng, ngoài ra cần điều trị bệnh gút và bệnh lý kèm theo nếu có.

2. Hình ảnh U cục tophi: Những vị trí thường xuất hiện tophi như ở tay ch

Tophi xuất hiện ở ngón tay
Tophi xuất hiện ở ngón tay.

U cục tophi xuất hiện ở ngón tay của bệnh nhân trong hình một trong những vị trí điển hình thường gặp ở những bệnh nhân gút, ngoài ra nếu để ý chúng ta có thể thấy những hạt li ti màu trắng xuất hiện dưới da rải đều trên tay của bệnh nhân gút. với U cục này này có thể người bệnh nhân nay đã mắc bệnh gút từ rất lâu, bởi thời gian để các u cục xuất hiện mà có thể quan sát bằng mắt thường thường mất từ 4-5 năm tuy theo cơ địa và chế độ ăn uống sinh hoạt của bệnh nhân.

U cục xuất hiện trên các khớp, đốt xướng gây tiêu xương, làm mất khả năng vận động, càng ngày bệnh nhân sẽ gặp khó khăn trong quá trình sinh hoạt cũng như làm việc. Lâu ngày sẽ gây tiêu xương gây mất khả năng vận động

Hình ảnh tophi xuất hiện ở ngón 1 bàn tay trái
Hình ảnh tophi xuất hiện ở ngón 1 bàn tay trái

3 Gút làm suy thận: 

Thận là một cơ quan của cơ thể, có quan hệ phối hợp hoạt động, ảnh hưởng qua lại với tất cả các cơ quan các hệ thống trong cơ thể. Trong mối quan hệ này, một cơ quan có thể tác động tốt hoặc xấu đến các cơ quan khác và ngược lại. Sự bất thường của một cơ quan có thể gây ra cả một hệ thống bất thường. Đây là cơ chế sinh bệnh của hầu hết các bệnh của cơ thể, và đặc biệt phức tạp trong bệnh gút và các bệnh mạn tính.

Hình ảnh sỏi thận đóng tại những kẽ thật gây suy thận
Hình ảnh sỏi thận đóng tại những kẽ thật gây suy thận

Ở bệnh nhân gút, tinh thể urate natri lắng đọng ở nhiều cơ quan trong cơ thể, trong đó thận là cơ quan có lắng đọng rất sớm. Vi tinh thể urate natri lắng đọng trong xoang thận sẽ tạo ra sỏi thận có thể làm tắc đường tiểu, viêm đường tiểu, ứ nước, dãn thận… lắng đọng trong các ống thận gây viêm thận kẽ và tắc các ống thận làm tổn thương tổ chức nhu mô thận và giảm chức năng thận.

PHÁC ĐỒ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH GÚT

PHÁC ĐỒ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH GÚT

(Từ đồng nghĩa: gout, thống phong)

  1. ĐỊNH NGHĨA :

Gút là tình trạng viêm do lắng đọng tinh thể monosodium Urate (MSU) tại mô mềm và tại khớp

  1. BỆNH SINH :

Tăng acid uric khi mức vượt > 6,8mg%. Cơ thể con người mỗi ngày tạo ra 250-750mg

Acid uric do purine từ thức ăn và chuyển hóa cơ thể tạo ra. Khi Acid uric tăng cao sẽ lắng đọng tinh thể tại mô gây ra tình trạng viêm.

Tăng acid uric do mất cân bằng giữa tiết chế ăn uống, sự tổng hợp và sự bài tiết acid uric

  • YẾU TỐ NGUY CƠ :

Yếu tố nguy cơ nam giới, nữ sau mãn kinh, yếu tố di truyền, bệnh thận giai đoạn cuối, ghép tạng. Tầng suất tăng theo tuổi, từ 0,1 8% từ tuổi< 45 đến 3,08% tuổi >65. Cao huyết áp, béo phì, uống nhiều rượu bia là các yếu tố nguy cơ thường gặp. Thuốc lợi tiểu thiazid, aspirin liều thấp

  1. CHẨN ĐOÁN :

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút

*Hiện diện tinh thể urate trong dịch khớp, hoặc tophi chứa tinh thể urate dùng phương pháp hóa học hoặc dùng kính hiển vi lương cực.

* Hoặc có 6 trong 12 tiêu chuẩn sau:

  • Trên 1 cơn viêm khớp gút cấp
  • Viêm tối đa phát triển trong vòng 1 ngày
  • Viêm 1 khớp
  • Đỏ khớp
  • Khớp bàn ngón 1 chân đau và sưng
  • Viêm khớp 1 bên khớp bàn ngón chân 1
  • Viêm 1 bên khớp liên quan với khớp cổ chân
  • Nghi ngờ tophi
  • Tăng uric máu
  • Hình ảnh X-quang sưng 1 bên khớp
  • Nang dưới vỏ xương với không hình ảnh bào mòn trên vỏ xương trên vỏ xương
  • Cấy vi trùng âm tính trong giai đoạn viêm gút cấp.

I, PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ:

Áp dụng 12 chứng cớ điều tri theo hội thấp khớp Châu âu EULAR 2008 (the European League Against Rheumatism)

  1. Áp dụng phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc phù hợp với yếu tố nguy cơ
  2. Giáo dục bệnh nhân và thay đối lối sống ( giảm cân và giảm rượu bia)
  3. Nhận ra bệnh lý đi kèm: cao huyết áp, tăng đường huyết, tăng lipìd máu, béo phì và hút thuốc.
  4. Uống colchicin và/hoặc NSAID là thuốc đầu tiên cho cơn gút cấp
  5. Liều thấp colchicme có thể đủ cho 1 số bệnh nhân với cơn gút cấp (liều cao có thể có tác dụng phụ)
  6. Hút dịch và chích khớp corticoid tác dụng dài có thề an toàn và hiệu quả cho cơn gút cấp
  7. Thuốc giảm acid uric cho cơn gút tái phát, bệnh khớp, tophi có thay đổi hình ảnh X-quang do bệnh gút
  8. Mục tiêu điểu trị là giảm acid uric máu < 6,8mg %
  9. Thuốc allopurinol cho điều trị lâu dài với liều 100mg khởi đau và tăng dần liều mỗi 2-4 tuần.
  10. Thuốc tăng thải uric (probenecid,…) là thuốc thay thế cho allopurinol, chỉ dùng khi chức năng thận bình thường (chống chỉ định sỏi thận).
  11. Phòng ngừa cơn gút cấp trong những tháng đầu tiên của điều trị giảm uric máu bao gồm cochicin và/hoặc NSAID.
  12. Bệnh gút liên quan đến điều trị thuốc lợi tiểu. Thì ngưng thuốc lợi tiểu; losartan và fenogibrate thì điều trị cho tăng huyết áp và tăng lipid máu.

Phác đồ điều trị theo giai đoạn bệnh gút

Giai đoạn gút Mục tiêu Loại thuốc Điều trị tăng acid uric Thời gian
Cơn cấp Điều trị đau Colchicine, NSAIDs, glucocorticoids (chích khớp, uống, hoặc chích) Không 1-2 tuần
Trung gian Phòng ngừa cơn bùng phát Colchicine,

NSAIDS

Không Thời gian cho đến khi giảm a.uric <6mg%
Kinh niên Phòng ngừa tiến triển bệnh mục tiêu là duy trì acid uric <6mg% Thuốc giảm acid uric máu Thời gian dài

Phác đồ điều trị 2014 – Khoa Ngoại Chấn Thương

Hướng dẫn chữa bệnh gút bằng lá trầu và nước dừa

Bài hướng dẫn chữa bệnh gút bằng là trầu và nước dừa được BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI đăng trên báo điện tử Sức khỏe và Đời sống xin được trích lại. 

Trong Đông y, gút (gout) gọi là chứng thống phong. có rất nhiều loại dược thảo có thể hỗ trợ điều trị gút, tùy theo tình trạng, cơ địa từng bệnh nhân mà có thể cân đối sử dụng liều lượng, phối hợp trị liệu.

Lá trầu

Lá Trầu Không
Lá Trầu Không

Lá trầu tại Việt Nam có 2 loại. Trầu mỡ là loại lá to bóng và trầu quế lá nhỏ hơn, xanh đậm và cay hơn, hay dùng để ăn trầu với cau và vôi. Trầu có tên khoa học là Piper Betle, thuộc họ Hồ tiêu Piperaceae, là loại dây leo mọc nhiều ở nước ta cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á: Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia…

Trong lá trầu có chứa 2,4% tinh dầu bao gồm các nhóm hoạt chất như: Eugenol, Chavicol, Chavibetol, Estragol… Tổ hợp các chất của nó có tác dụng như chất chống viêm khớp, phục hồi các hư tổn ở khớp, ngoài ra nó còn có tác dụng giảm đau thần kinh. Đặc biệt, lá trầu có khả năng cải thiện các rối loạn chuyển hóa trong cơ thể, giúp hấp thu khoáng chất, vitamin tốt hơn. Đồng thời cũng giúp đào thải các chất cặn bã độc hại dễ dàng hơn. Lá trầu còn làm tăng hiệu quả làm việc của các cơ vòng dạ dày, thực quản, giúp giảm nhanh lượng axít thừa tránh được bệnh trào ngược dạ dày thực quản (một chứng bệnh hay gặp khi uống quá nhiều thuốc Tây).

Lá trầu còn giúp tránh được bệnh ho và các bệnh về răng miệng, hôi miệng, cùng với một số tác dụng khác như làm tăng hưng phấn, kích dục, hỗ trợ táo bón. Lá trầu nó còn có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm tốt, giúp giảm viêm phổi, giảm viêm phế quản, tan đàm, vì thế mà cải thiện được tình trạng phổi tắc nghẽn phổi mãn tính. Tác dụng trị nấm của lá trầu cũng khá hiệu nghiệm, kể cả nấm da. Chúng ta có thể giã nát lá trầu rồi xát vào những vùng da bị nấm sẽ thấy hiệu quả. Như vậy lá trầu còn có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm tốt.

Nước dừa

Còn nước dừa dùng trong phối hợp trị liệu cùng với lá trầu có vai trò như một chất hòa tan, giúp chiết xuất hoạt chất trong lá trầu ra một cách nhanh chóng. Nước dừa còn là một chất điện phân tự nhiên, giúp tăng cường sự trao đổi chất trong cơ thể, giúp cân bằng chuyển hóa. Nước dừa làm tăng HDL (một chất có lợi cho mạch máu, giúp dọn dẹp các cholesterol xấu trong lòng mạch).

Trong thành phần của nước dừa còn có nhiều kali rất tốt cho tim mạch và các thành phần khác tương tự như huyết tương máu người. Nước dừa còn có tác dụng kháng virút, kháng viêm, chống oxy hóa và khử độc rất tốt, làm giảm sự hình thành axít lactic (axít lactic từ rượu là chất cạnh tranh đào thải với axít uric qua thận, gây ứ đọng, tăng cao lượng uric trong máu. Đó là nguyên nhân tại sao mỗi khi đi nhậu về thì gút nặng thêm). Khi uống nước dừa giúp cải thiện các bất thường về tiết niệu và thận, tăng đào thải axít uric. Vì vậy mà phương thuốc phối hợp lá trầu và nước dừa là một cách tuyệt vời để khống chế bệnh gút!

Cách dùng lá trầu, nước dừa

Mỗi sáng thức dậy dùng 100g lá trầu tươi, xắt nhuyễn ngâm vào trong một trái dừa xiêm vừa vạt nắp gáo. Nên chắt bớt một chút nước dừa ra để khỏi bị tràn khi cho lá trầu nhuyễn vào, sau đó đậy nắp lại và ngâm đúng 30 phút, rồi chắt ra ly, uống một mạch. Không ăn sáng ngay mà chờ đến khi nước dừa, trầu được cơ thể hấp thu hoàn toàn, lúc đi tiểu trở lại rồi mới ăn sáng. Làm như vậy trong vòng một tuần thì các cơn đau nhức do bệnh gút về đêm sẽ giảm hẳn. Người bệnh có thể ngủ ngon một mạch đến sáng và cảm thấy tươi tỉnh ra, cũng vì thế mà đầu óc minh mẫn, dễ chịu. Cần phải uống 1 tháng liền để trị bệnh triệt để hẳn.

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

Chườm đá giảm đau cho bệnh gút

Chườm đá làm giảm chứng đau khớp ở bệnh nhân gút  Một nghiên cứu mới đây của Mỹ cho thấy, việc dùng những túi đá để chườm tại các khớp bị viêm do bệnh gút sẽ làm giảm đáng kể triệu chứng đau của người bệnh.

việc dùng những túi đá để chườm tại các khớp bị viêm do bệnh gút sẽ làm giảm đáng kể triệu chứng đau của người bệnh.Các bác sĩ tại Đại học Y New Jersey đã chọn ra 19 bệnh nhân bị viêm khớp cấp do gút (giai đoạn đầu của bệnh gút, khi mới xuất hiện những biểu hiện đầu tiên). Tất cả họ đều được dùng thuốc chống gút đặc hiệu là colchicine và thuốc chống viêm prednisone. Ngoài ra, 10 người trong số này còn được chườm túi lạnh ở vùng khớp bị đau trong 30 phút, 4 lần mỗi ngày. Bệnh nhân được theo dõi trong vòng 1 tuần.

Kết quả cho thấy, ở nhóm được chườm lạnh, dấu hiệu đau giảm đáng kể; chứng phù nề, ứ nước cũng giảm ít nhiều. Ngoài ra, người bệnh ít bị các cơn gút nặng so với những người ở nhóm không chườm lạnh.

Tuy kết quả thu được rất khả quan, nhưng theo các tác giả, quy mô của nghiên cứu còn nhỏ nên chưa rõ ngoài giảm đau, liệu pháp này có đem lại tác dụng gì khác hay không, và liệu điều này có còn đúng khi kết hợp chườm lạnh với các thuốc khác. Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Chuyên ngành Khớp số tháng 2 của Mỹ.

Thu Thủy (theo HealthScout)