Thực phẩm nên và không nên ăn đối với người lọc máu ngoài thận

Suy thận mạn là giai đoạn cuối của bênh thận gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và tính mạng của người bệnh. Khi thận không còn đủ chức năng hoạt động , người bệnh sẽ được chỉ định chạy thận nhân tạo. Đây là quá trình lọc máu bên ngoài thận, là biện pháp để kéo dài sự sống cho người bệnh. Để hổ trợ và đảm bảo tốt nhất cho việc chạy thận có hiệu quả, người bệnh cần kết hợp chế độ ăn uống phù hợp ..

thực phẩm nên và không nên ăn đối với người lọc máu ngoài thận
thực phẩm nên và không nên ăn đối với người lọc máu ngoài thận

Người  bệnh chạy thận nhân tạo cần các biện pháp hổ trợ để điều trị một số biến chứng như thiếu máu, tăng huyết áp, rối loạn canxi và phosphate…

Khi thận bi suy thì khả năng thanh lọc một số chất tạo ra do quá trình chuyển hóa giảm, dẫn tới tình trạng tăng chất ure trong máu, đồng thời có sự ứ trệ muối, nước gây phù nề, ảnh hưởng đến huyết áp và tim. Vì vậy kết hợp với điều trị thuốc thì chế độ ăn trong giai đoạn này cần giảm đạm và hạn chế muối.

Cơ chế hoạt động của máy lọc là loại bỏ các chất cặn bã, nhưng quả thận bị suy sẽ không đảm đương được chức năng bài tiết, do vậy một số chất dinh dưỡng  cũng bị thất thoát ra ngoài qua màng lọc, đặc biệt là chất đạm, chất khoáng như canxi, magie, một số vitamin như vitamin C, vitamin nhóm B, acid folic… Để khắc phục thình trạng thiếu hụt này thì chế độ ăn hàng ngày cần bổ sung các chất trên và hạn chế các chất có nguy cơ thừa, nhằm duy trì tình trạng dinh dưỡng tốt trong quá trình lọc thận để kéo dài thời gian và chất lượng sống cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Dưới đây là các loại thực phẩm nên và không nên ăn đối với người lọc máu ngoài thận :

1. Chế độ ăn giàu đạm (protein)

Người  bình thường cần khoảng 1g/kg/ngày( ví dụ: người 50kg thì cần 50g đạm/ngày). Người chạy thận nhân tạo cần nhiều chất đạm hơn, khoảng 1,2- 1,4g/kg/ngày( lấy số cân nặng nhân với 1,2- 1,4, như vậy người nặng 50kg cần 60g- 70g chất đạm/ngày).

2. Đảm bảo đủ năng lượng

Cần cung cấp đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể để phòng chống suy dinh dưỡng trong quá trinh chạy thận.

Cần cung cấp đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể để phòng chống suy dinh dưỡng trong quá trinh chạy thận.
Cần cung cấp đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể để phòng chống suy dinh dưỡng trong quá trinh chạy thận.

Nhu cầu 35-40kcal/kg/ngày(tính cân nặng trước chạy thận). người 50kg cần 1.800- 2.000 kcal/ngày. Chất tinh bột là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể , chiếm 50-60% tổng năng lượng khẩu phần ăn. Chất tinh bột bao gồm cơm, bún, mì, nui, phở, khoai, miến…

Ngoài 3 bữa ăn chính cần bổ sung các bữa ăn phụ như sữa giàu đạm, khoai củ, bột sắn dây…

Trước khi lọc thận nên ăn một bữa đủ chất( cơm, cháo, khoai củ kèm với thịt, cá, trứng, rau củ), nếu bệnh nhân ăn kém thì thay thế bằng 1 ly sữa hoặc bột ngủ cốc giàu năng lượng và đạm để cung cấp đủ dinh dưỡng, bù chất đạm bị thất thoát, đồng thời đề phòng hạ đường huyết trong và sau khi chạy thận.

3. Chất béo

Gần 1/3 nguồn năng lượng cần cho cơ thể được cung cấp từ chất béo, 1g chất béo cung cấp 9kcal, trong khi 1g bột đường hoặc 1g đạm chỉ cung cấp 4kcal, 1 muỗng caphe chứa 5g dầu cung cấp 45kcal.

Mỗi ngày dùng thêm 5 muỗng cà phê dầu sẽ cung cấp 225kcal(bằng năng lượng của 1 chén cơm đầy hoặc 2 chén cháo đặc)

Cần bổ sung dầu ăn khi chế biến các món ăn( cho thêm vào cháo, sup, canh, trộn, chiên, sào…) để tăng cường năng lượng.

Nên ưu tiên dầu nành, dầu hướng dương, dầu cải để trộn thêm món ăn. Hạn chế thịt mỡ, đồ lòng, bơ, dầu dừa, nước cốt dừa để giảm nguy cơ rối loạn chuyển hóa mỡ máu.

4. Hạn chế chất muối trong khẩu phần ăn

Không ăn thức ăn chế biến sẵn có nhiều muối( dăm bông, xúc xích, chả lụa, thịt hộp, dưa muối chua…) các món ăn cần nêm ít muối,bột nêm( nấu nhạt hơn bình thường). ngoài ra , chú ý không dùng nước chấm mặn.

Lượng muối trong thực phẩm:

100g dăm bông, giò lụa có 800mg muối, 1 miếng phô mai đầu bò có 225mg muối, 1 muỗng cà phê nước mắm có 1g muối, 1 muỗng cà phê nước tương có 0,7mg muối, 1 gói mì ăn liền có 2g muối.

Tổng lượng muối sữ dụng trong ngày không quá 4g.

5. Hạn chế nước

Tổng lượng nước dùng trong ngày khoảng  1 lít(nếu bệnh nhân không có nước tiểu), bao gồm cả nước trong món ăn, thức uống. nước từ thức ăn( canh, sup, cháo, sữa,yaour, trái cây…) chiếm khoảng phân nữa nhu cầu nước.

Tránh dùng nước ngọt có ga, có nhiều đường. nên uống từng ngụm nước , rãi đều trong ngày. Uống ít nước canh và nước rau quả vì sẽ có nhiều muối và kali.

6. Rau, trái cây

Rau, trái cây cung cấp các vitamin, khoáng chất và chất xơ cho cơ thể. Tuy nhiên chúng có chứa nhiều kali  và khi kali trong máu tăng cao sẽ gây nguy hiễm như loạn nhịp tim và có thể gây ngưng tim

Nhu cầu kali mỗi ngày không quá 2g. vì vậy nên chọn các loại rau, trái cây có chứa ít kali.

Cách chế biến thực phẩm để giảm kali: cắt nhỏ, ngăm, hoặc nấu với 2 lần nước hoặc luộc bỏ nước.

Mỗi ngày có thể dùng 100-150g rau củ, 100g trái cây tươi.

7. Vitamin và muối khoáng

Cùng với việc hạn chế rau và trái cây, việc nấu với nhiều nước và chính sự lọc thận sẽ đưa đến sự thiếu hụt các vitamim B1, B6, vitamin C, acid folic, chất sắt, canxi. Vì vậy cần uống bổ sung các loại này theo chỉ định của bác sĩ.

Cần hạn chế ăn đồ lòng, tôm, cua, lòng đỏ trứng, socola, phomai,để hạn chế tăng phosphat

Nguồn siêu tâm

Nhận biết sớm bệnh thận nhờ 10 dấu hiệu sau

Phát hiện sớm những dấu hiệu của bệnh thận và có một lối sống lành mạnh là cách để giảm thiểu nguy cơ suy thận.

Dấu hiệu nhận biết suy thậnNếu có 1 trong 10 triệu chứng này, bạn nên đến bệnh viện hoặc các trung tâm y tế để kiểm tra sức khỏe và được tư vấn sớm.

1. Những thay đổi khi đi tiểu

Những thay đổi như tiểu nhiều vào đêm, nước tiểu có bọt, lượng nước tiểu nhiều hơn/ít hơn bình thường và nước tiểu có màu nhợt/màu tối, nước tiểu có máu, cảm thấy căng tức hay đi tiểu khó khăn…

Mô tả của bệnh nhân: “Bạn vào nhà vệ sinh nhiều hơn, nhưng không thể đi tiểu hết, chỉ hai ba giọt mà thôi. Và sau đó, bạn vẫn cảm thấy giống như sự căng tức xuôi xuống dưới”, “Tôi đi tiểu ra máu. Nước tiểu có màu sẫm giống như màu nho”…

  1. Phù: Thận bị hỏng không loại bỏ được chất lỏng dư thừa nữa, do vậy chất lỏng tích tụ trong cơ thể khiến bạn bị phù ở chân, cổ chân, bàn chân, mặt và/hay tay.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi bị phù cổ chân và mặt, chân tôi to đến nỗi tôi không thể đi giày nữa, mặt thì căng phồng lên”…

  1. Mệt mỏi: Những quả thận khỏe mạnh tạo ra một hormone gọi là erythropoi-etin, hormone này thông báo cho cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mang oxy. Khi thận bị hỏng, chúng tạo ra ít ery-thropoietin hơn, cơ thể có ít các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy hơn, nên các cơ và đầu óc của bạn mệt đi nhanh chóng. Tình trạng này được gọi là thiếu máu và có thể điều trị được.

Mô tả của bệnh nhân: “Lúc nào bạn cũng cực kì mệt mỏi, như thế sức khỏe bị chảy đi hết, ngay cả khi bạn chẳng làm gì”…

  1. Ngứa/phát ban ở da: Thận loại bỏ các chất thải ra khỏi máu. Khi thận bị suy, sự tích tụ của các chất thải này trong máu có thể gây ngứa ở da.

Mô tả của bệnh nhân: “Đó không hẳn chỉ là ngứa ở da, mà nó chạy dọc xương. Tôi đã phải dùng bàn chải mà cào lên da thịt mà không hết ngứa. Lưng của tôi rớm máu do bị cào quá nhiều”…

>> Công thức tính độ lọc cầu thận 

  1. Vị kim loại ở trong miệng/hơi thở có mùi amoniac: Sự tích tụ của các chất thải trong máu (được gọi là chứng urê huyết) có thể khiến thức ăn có vị khác đi và khiến hơi thở có mùi. Bạn cũng nhận thấy rằng bạn không thích ăn thịt nữa.

Mô tả của bệnh nhân: “Bạn sẽ cảm thấy có vị lợm ở trong miệng, giống như bạn vừa uống sắt vậy”, “Bạn không còn thèm ăn như trước đây nữa”…

  1. Buồn nôn và nôn: Sự tích tụ quá nhiều của các chất thải trong máu (chứng urê huyết) cũng có thể gây nên tình trạng buồn nôn và nôn.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi có rất nhiều cơn ngứa, và tôi bị nôn. Tôi không thể giữ tí đồ ăn thức uống nào trong dạ dày”…

  1. Thở nông: Đó là do chất lỏng dư thừa trong cơ thể tích tụ trong hai lá phổi. và chứng thiếu máu (sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy và sinh ra chứng thở nông.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi không thể ngủ vào ban đêm, tôi không thể thở được, nó giống như tôi bị chết chìm. Và, tôi không thể đi đâu được nữa. Điều đó thật là tệ”…

  1. Cảm thấy ớn lạnh: Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy lúc nào cũng lạnh, thậm chí bạn đang ở trong phòng có nhiệt độ ẩm.

Mô tả của bệnh nhân: “Đôi khi tôi cảm thấy rất lạnh. Có những lúc, tôi rùng mình vì lạnh dù đang đứng giữa ánh nắng ấm áp của mùa hè”.

  1. Hoa mắt, chóng mặt và mất tập trung: Thiếu máu khiến não không được cung cấp đủ oxy. Điều này có thể ảnh đến trí nhớ, gây mất tập trung, hoa mắt và chóng mặt.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi không thể nhớ những gì tôi đã làm từ tuần trước, hay có thể là 2 hôm trước thôi. Tôi cũng không thể tập trung để chơi giải ô chữ và đọc sách như trước”; “Tôi đã luôn luôn mệt mỏi và hoa mắt chóng mặt một cách đột ngột”…

  1. Đau chân/cạnh sườn: Một số bệnh nhân bệnh thận có thể bị đau ở lưng hay sườn. bệnh nhân đan nang, có thể khiến các nang trong thận chứa đầy chất lỏng, to lên và gây đau.

Mô tả của bệnh nhân: “Khoảng 2 năm trước, phần thấp của lưng luôn luôn đau đớn, tôi tự hỏi vì sao lại có chuyện như vậy? Các bác sĩ đã chẩn đoán rằng đó là do các vấn đề ở thận”..

Nguồn: Bệnh Viện 115

Hội chứng thận hư: nguyên nhân- triệu chứng và điều trị

Hội chứng thận hư (HCTH) là hội chứng lâm sàng và sinh hóa xuất hiện ở nhiều bệnh do tổn thương ở cầu thận, đặc trưng bằng những dấu hiệu sau: Phù, Protein niệu cao, Protein máu giảm, Lipid máu tăng.

Tiêu chuẩn chẩn đoán:

  1. Phù: Phù mặt, chi dưới; có thể phù toàn thân kèm theo cổ chướng và tràn dịch màng phổi.
  2. Protein niệu cao > 3,5g/24 giờ.
  3. Protein máu giảm < 60g/lít, Albumin máu < 30g/lít.
  4. Rối loạn lipid máu: lipid máu tăng > 9g/lít, cholesterol tăng > 6,5mmol/lít, triglycerid > 2,3mmol/lít.
  5. Có hạt mỡ lưỡng chất, trụ mỡ trong nước tiểu.

Trong đó các tiêu chuẩn 2 và 3 bắt buộc phải có.

Nguyên nhân dẫn tới HCTH

Có 2 nguyên nhân:
– Nguyên nhân nguyên phát ở cầu thận.
– Nguyên nhân thứ phát do các bệnh toàn thể hoặc những trường hợp bệnh lý khác dẫn đến.
– Ở người lớn, khoảng 80% viêm cầu thận không biết rõ nguyên nhân, còn lại là kết hợp với bệnh hệ thống hay bệnh lupus ban đỏ, tiểu đường và thận dạng bột.

HÌnh ảnh cấu tạo thận
HÌnh ảnh cấu tạo thận

Bệnh sinh của HCTH chưa được hiểu biết đầy đủ. Về giải phẫu bệnh học thì tổn thương ở màng đáy cầu thận là chủ yếu. Bình thường màng đáy không cho các phần tử lớn như protein đi qua. Khi có một nguyên nhân nào đó làm màng đáy bị tổn thương, điện thế của màng đáy bị thay đổi thì protein lọt qua được. Protein niệu càng nhiều thì protein máu càng giảm. Albumin ra nhiều nhất (80%) làm giảm áp lực keo của huyết tương, nước thoát ra ngoài lòng mạch. Hậu quả là gây phù và giảm thể tích tuần hoàn hiện dụng. Từ đó một mặt trực tiếp gây tái hấp thu nước và Natri ở ống lượn gần, mặt khác gián tiếp qua hệ thống điều hòa nội tiết làm tăng ADH và Aldosteron. ADH tăng sẽ tái hấp thu nước ở ống góp, Aldosterol tăng sẽ tái hấp thu Na+ và nước ở ống lượn xa và ống góp. Kết quả của quá trình trên là cơ thể giữ Natri và giữ nước, do đó sẽ tiểu ít và dẫn tới phù toàn thân, kéo theo các rối loạn nước và điện giải. Về thành phần lipid máu tăng thì chưa có giải thích đầy đủ. Có giả thuyết cho rằng lipid, cholesterol máu trong HCTH là một yếu tố gây xơ hóa cầu thận và dẫn đến suy thận.
Khi mắc HCTH, bệnh nhân thường bị suy dinh dưỡng do thiếu protein – năng lượng do mất nhiều protein qua đường nước tiểu kèm theo chán ăn do giảm dịch ruột, phù gan và nội tạng. Ngoài ra ăn kém do cảm thấy căng trướng do bị cổ chướng. HCTH kéo dài sẽ dẫn đến tiêu cơ bắp, rụng tóc. Tình trạng thiếu dinh dưỡng còn góp phần làm tăng tình trạng mắc các bệnh nhiễm khuẩn trong HCTH như: Viêm phúc mạc tiên phát, viêm phổi, viêm cơ, lao phổi… Cho nên ngoài việc điều trị bằng thuốc, chế độ ăn trong HCTH cũng đóng vai trò hết sức quan trọng giúp cơ thể tăng sức đề kháng và chống lại các rối loạn về thành phần sinh hóa trong máu.

Than-hu-che-do-an

Các nguyên tắc trong xây dựng chế độ ăn cho bệnh nhân bị HCTH:

1. Giàu chất đạm (protein): Do mất nhiều protein qua nước tiểu, làm giảm protein máu, giảm áp lực keo gây phù, teo cơ, suy dinh dưỡng, do đó chế độ ăn phải bù đủ lượng đạm cho chuyển hóa của cơ thể và số lượng đạm mất qua nước tiểu, nhưng cũng không nên ăn quá nhiều đạm vì có thể sẽ làm xơ hóa cầu thận dẫn đến suy thận.
Lượng đạm trung bình 1 ngày = 1g/kg/ngày + lượng protein mất qua nước tiểu trong 24 giờ. Trong đó 2/3 là đạm động vật có giá trị sinh học cao từ thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa. 1/3 là đạm thực vật từ gạo, mì, đậu đỗ…

2. Năng lượng: Ðảm bảo đủ năng lượng từ 35-40kcalo/kg/ngày.

3. Chất béo: Nên ăn giảm chất béo (20-25g/ngày). Do rối loạn chuyển hóa lipid máu, tăng cholesterol, vì vậy không nên ăn các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol như óc, lòng, các loại phủ tạng động vật, bơ, mỡ, trứng. Ðặc biệt nên tránh quan niệm “ăn thận bổ thận”, vì trong thận (bầu dục) có chứa nhiều cholesterol.

Khi chế biến thức ăn nên hấp, luộc; Hạn chế xào, rán, quay. Nên dùng các loại dầu thực vật như: Dầu đậu tương, dầu hạt cải, dầu lạc, dầu vừng để thay thế mỡ.
4. Các vitamin, muối khoáng và nước:
– Lượng nước trong chế độ ăn và uống hàng ngày bằng lượng nước tiểu + 500ml.
– Ăn nhạt, bớt muối, mì chính: 1-2g muối/ngày.
– Ăn nhiều các loại thực phẩm có chứa nhiều vitamin C, beta caroten, vitamin A, selenium (như các loại rau xanh, quả chín có màu đỏ và vàng: đu đủ, cà rốt, xoài, giá đỗ, cam…) vì các loại vi chất dinh dưỡng nêu trên có tác dụng chống oxy hóa, chống tăng các gốc tự do – là những chất gây xơ hóa cầu thận, chóng dẫn đến suy thận. Trong những trường hợp tiểu ít và có kali máu tăng thì phải hạn chế rau quả.
Những thực phẩm nào nên dùng cho bệnh nhân HCTH?
1. Chất đường bột: Các loại gạo, mì, khoai sắn đều dùng được.
2. Chất béo: Các loại dầu thực vật (dầu đậu tương, dầu mè, lạc vừng…).
3. Chất đạm:
– Ăn thịt nạc, cá nạc, trứng sữa, đậu đỗ…
– Nên sử dụng sữa bột tách bơ (sữa gầy) để tăng cường lượng đạm và calci.
4. Các loại rau quả:
Ăn được tất cả các loại rau quả như người bình thường, trừ trường hợp tiểu ít thì phải hạn chế rau quả.
Những thực phẩm không nên dùng hoặc hạn chế dùng cho bệnh nhân bị HCTH
1. Chất bột đường: Không cần kiêng một loại nào.
2. Chất béo:
– Giảm số lượng, hạn chế ăn mỡ động vật.
– Nên chế biến bằng cách hấp, luộc; Hạn chế xào, rán.
3. Chất đạm:
– Không sử dụng các phủ tạng động vật như tim, gan, thận, óc, dạ dày…
– Hạn chế trứng: 1-2 quả/tuần.
4. Các loại rau quả:
– Nếu bệnh nhân không tiểu được thì không nên ăn các loại quả có hàm lượng Kali cao như cam, chanh, chuối, dứa, mận…
Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày
1. Gạo tẻ: 250-300g.
2. Thịt nạc hoặc cá nạc: 200g, hoặc thay thế bằng 300g đậu phụ.
3. Dầu ăn: 10-15g.
4. Rau: 300-400g.
5. Quả: 200-300g.
6. Muối ăn: 2-4g.
7. Sữa bột tách bơ: 25-50g.
8. Ðường: 10g.
Lưu ý: Ăn nhạt hoàn toàn trong giai đoạn phù; Khi hết phù có thể ăn 2 thìa cà phê nước mắm 1 ngày.

Nguồn bài viết

  Thạc sĩ Lê Thị Hải

Bệnh viện thông nhất

Nhận biết dấu hiệu suy thận

Nhận biết dấu hiệu suy thận Bệnh nhân suy thận mãn được chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Hai quả thận người có khoảng 1 triệu đơn vị thận. Người ta có thể mất 50% số đơn vị thận mà vẫn sống bình thường. Vì vậy mới có chuyện cho người khác một quả thận. Tuy nhiên, nếu mất trên số lượng đơn vị thận này, tình trạng suy thận sẽ bắt đầu.

Thận của một người có thể chết đi, tạm ngưng hoạt động hoặc không thể hoạt động được vì một bệnh lý nào đó. Nếu chỉ tạm ngưng hoạt động trong thời gian ngắn và được điều trị đúng, kịp thời, thận sẽ hoạt động trở lại.

Có thể nhận biết triệu chứng của suy thận cấp qua số lượng nước tiểu thải ra trong ngày. Nếu bệnh nhân không có nước tiểu, hoặc nước tiểu đi được có lượng dưới 100ml trong vòng 24g là dấu hiệu cho biết bị suy thận cấp. Ngoài ra, bệnh nhân còn có các dấu hiệu khác như phù, sưng mặt, sưng mi mắt do ứ nước trong cơ thể.

Trong khi đó, triệu chứng của bệnh suy thận mãn lại kín đáo hơn. Bệnh nhân thường chỉ có triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, không muốn ăn, thiếu máu (thận còn có chức năng tiết ra kích thích tố để sinh hồng cầu). Nếu không để ý, bệnh nhân sẽ không đi khám bệnh và bỏ qua các triệu chứng này.

Để chẩn đoán suy thận mãn, phải cần đến những xét nghiệm cơ bản là đánh giá nồng độ urê máu và créatinine máu. Để phát hiện sớm một bệnh nhân có bị suy thận mãn hay không, trong quá trình theo dõi các bệnh lý nội khoa (cao huyết áp, tiểu đường…) bác sĩ phải thường xuyên cho bệnh nhân kiểm tra định kỳ hai chỉ số urê và créatinine.

Để phòng ngừa suy thận mãn, khi bị nhiễm trùng đường tiểu phải đi khám và điều trị đúng cách; tránh bị sạn thận bằng cách uống nước nhiều. Khi bị sạn thận (cũng có thể gây ra nhiễm trùng đường tiểu) phải điều trị ngay để không gây bế tắc. Uống đủ nước để duy trì lượng nước tiểu khoảng 1,5 lít/ngày. Không nên ăn quá nhiều đạm động vật, vì ăn nhiều đạm sẽ làm thận phải hoạt động nhiều hơn (chức năng chính của thận là biến dưỡng chất đạm). Tránh ăn mật cá, mật rắn, tránh để nhiễm trùng, nhiễm độc… Khi bệnh nhân có bệnh cao huyết áp, tiểu đường… cần tuân thủ điều trị thuốc và thực hiện chế độ ăn uống theo lời khuyên của bác sĩ.

Với những người chỉ còn một thận (cho người khác một thận, có bệnh lý bị teo một thận, bị sạn thận làm hư mất một thận, bị chấn thương mất một thận…), không có dự trữ thứ hai, tuyệt đối tránh các biến chứng do những bệnh khác gây ra.

Vậy còn nước tiểu đục, tiểu ra máu, tiểu đêm, đau lưng liên quan đến bệnh thận hay không? Nước tiểu đục có ba nguyên nhân. Tiểu ra máu có đến hơn… 100 nguyên nhân. Đau lưng có nhiều nguyên nhân và cũng có nhiều lý do làm ta phải thức dậy tiểu đêm.

Vì vậy, để biết chính xác việc tiểu đục, tiểu ra máu, đau lưng, tiểu đêm… liên quan đến bệnh lý thận hay không, bệnh nhân đến bệnh viện để khám bệnh. Hiện nay ở TP.HCM, các bệnh viện đã làm được nhiều loại xét nghiệm, chẩn đoán cận lâm sàng… để tầm soát và phát hiện sớm các bệnh lý về thận.

Suy thận mãn ở tuổi 20

Khoa cấp cứu tiếp nhận bệnh nhân nam T.Đ.K., 21 tuổi, nhà ở quận Bình Thạnh, TP.HCM. K. khá mệt mỏi, nhức đầu nhiều, da niêm nhợt, nặng hai mi mắt do phù và hai chân từ bàn đến cẳng đều phù nhiều, tiểu rất ít.

Hai ngày trước K. có lọc máu cấp cứu bằng máy thận nhân tạo tại một bệnh viện ở quận Bình Thạnh vì đang bị đợt cấp của suy thận mãn, bệnh rất nguy hiểm đe dọa tính mạng. Sau lọc máu K. thoát khỏi nguy kịch, và được bác sĩ tư vấn là đến lúc lọc máu kéo dài, cần làm fistula động tĩnh mạch để tạo đường mạch máu lâu dài cho việc chạy thận. K. được chuyển đến bệnh viện chuyên khoa để làm fistula.

K. cho biết nghỉ học từ năm 16 tuổi do nhà khó khăn, sau đó đi làm thợ hồ và hay có những vết thương rách da hay sây sát chân tay do đụng chạm vật nặng hay nhọn. Do không hiểu biết đầy đủ nên K. cứ để vết thương tự lành mà không chăm sóc, trong đó có những vết thương mưng mủ.

Đến năm 19 tuổi thấy có hiện tượng hay đi tiểu máu sẫm màu hoặc màu đỏ. Hiện tượng này kéo dài đến bốn tháng thì K. cảm thấy mệt nhiều, tay chân phù, làm việc không nổi. K. đi khám bệnh phát hiện mình bị viêm cầu thận mãn tính, các bác sĩ điều trị cho K. tư vấn uống thuốc dài lâu nhằm làm chậm lại sự tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối ở những người viêm cầu thận mãn tính. Nhưng do việc mưu sinh nên sự hợp tác điều trị không được thường xuyên. Đến nay K. đã bị suy thận mãn tính mà không biết, bệnh cảnh đang bùng phát lên nhiều đợt cấp, đòi hỏi phải lọc máu kéo dài.