Thuốc Etomidate

Thuốc Etomidate dùng gây mê ngắn hạn khi kết hợp với giảm đau.

    • Etomidate-lipuro

      Thuốc Etomidate-lipuro
      Thuốc Etomidate-lipuro
    • Succinyl gelatin (gelatin lỏng chuyển hóa); Natri clorid; Natri hydroxyd; Nước pha tiêm; Natri; 154 mmol/l; Clorid; 120 mmol/l; Nồng độ áp lực thẩm thấu lý thuyết; 274 mOsm/l; Điểm hóa gel; ≤ 3°C
    • B. Braun
    • Nhà đăng ký: B.Braun Medical Industries S.B
    • Nhà sản xuất:B.Braun Melsungen AG
    • Nhóm sản phẩm: Thuốc gây tê, mê

nhũ dịch tiêm tĩnh mạch : ống 10 mL, hộp 10 ống
Thành phần

Cho 1000 ml dịch truyền
Succinyl gelatin (gelatin lỏng chuyển hóa) 40 g
Trung bình trọng lượng của phân tử lượng (Mw) 30.000
Trung bình số lượng của phân tử lượng (Mn) 23.200
Natri clorid 7,01 g
Natri hydroxyd 1,36 g
Tá dược:
Nước pha tiêm
Nồng độ điện giải:
Natri 154 mmol/l
Clorid 120 mmol/l
Tính chất hóa lý:
Nồng độ áp lực thẩm thấu lý thuyết 274 mOsm/l
pH 7,1-7,7
Điểm hóa gel ≤ 3°C

Dược lực
Thuộc nhóm dung dịch keo thay thế thể tích huyết tương.
Chỉ định
Dùng làm dung dịch keo thay thế thể tích huyết tương trong các trường hợp:
– Đề phòng và điều trị tình trạng giảm thể tích máu tuyệt đối và tương đối (ví dụ sau khi bị sốc do chảy máu hoặc chấn thương, mất máu trước, trong và sau khi mổ, bỏng, nhiễm trùng).
– Đề phòng hạ huyết áp (ví dụ trong trường hợp có liên quan với cảm ứng gây tê ngoài màng cứng hoặc tủy sống).
– Pha loãng máu.
– Tuần hoàn ngoài cơ thể (máy tim-phổi nhân tạo, thẩm phân máu).
Chống chỉ định
Không được dùng Gelofusine trong các trường hợp:
– Đã biết là bị mẫn cảm với gelatin.
– Tăng thể tích máu.
– Ứ nước.
– Suy tim trầm trọng.
– Rối loạn đông máu trầm trọng.
Với các chỉ định sau khi dùng Gelofusine phải hết sức thận trọng:
– Tăng natri máu, vì có bổ sung thêm natri trong thành phần của Gelofusine.
– Tình trạng mất nước, vì trong các trường hợp đó việc đầu tiên là cần phải điều chỉnh cân bằng dịch.
– Rối loạn đông máu, vì việc sử dụng thuốc dẫn đến tình trạng pha loãng các yếu tố đông máu.
– Suy thận, vì đường bài tiết bình thường có thể bị suy yếu.
– Bệnh gan mãn, khi đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp albumin và các yếu tố đông máu. Sử dụng thuốc lại càng làm các yếu tố này bị pha loãng hơn.
Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng
Cần phải lưu ý đến những phòng ngừa sau đây:
Các chất điện giải cần được thay thế nếu cần.
Các kiểm soát cần thiết:
Cần phải theo dõi điện giải đồ và thăng bằng nước, đặc biệt là trong trường hợp tăng natri máu, tình trạng mất nước và suy thận.
Trong trường hợp có rối loạn đông máu và bệnh gan mãn cần phải theo dõi các chỉ số đông máu và albumin huyết thanh.
Do khả năng các phản ứng dị ứng (phản vệ/thể phản vệ) có thể xảy ra, việc theo dõi người bệnh là thực sự cần thiết.
Các nguyên tắc chung trong phòng ngừa và điều trị các tác dụng phụ gây dị ứng (phản vệ/thể phản vệ):
Bảng 1: Cấp độ và biểu hiện lâm sàng:

Cho 1000 ml dịch truyền Hemohes 6%
Hydroxyethyl starch 60 g
Trung bình trọng lượng của phân tử lượng 200.000
Trung bình số lượng của phân tử lượng 80.000
Tỷ lệ nhóm thế 0,5 (0,45-0,55)
Natri clorid 9 g
Tá dược :
Nước cất pha tiêm
Nồng độ điện giải :
Natri 154 mmol/l
Clorid 154 mmol/l
Tính chất hóa lý :
Nồng độ áp lực thẩm thấu lý thuyết 310 mOsm/l
pH 4-7
Cho 1000 ml dịch truyền Hemohes 10%
Hydroxyethyl starch 100 g
Trung bình trọng lượng của phân tử lượng 200.000
Trung bình số lượng của phân tử lượng 80.000
Tỷ lệ nhóm thế 0,5 (0,45-0,55)
Natri clorid 9 g
Tá dược :
Nước cất pha tiêm
Nồng độ điện giải :
Natri 154 mmol/l
Clorid 154 mmol/l
Tính chất hóa lý :
Nồng độ áp lực thẩm thấu lý thuyết 310 mOsm/l
pH 4-7

Dược lực
Thuộc nhóm dung dịch keo thay thế thể tích huyết tương.
Chỉ định
Dùng làm dung dịch keo thay thế thể tích huyết tương trong các trường hợp :
– Đề phòng và điều trị tình trạng giảm thể tích máu (ví dụ sau khi bị sốc do chảy máu hoặc chấn thương, bị mất máu trước, trong và sau khi mổ, bị bỏng, bị nhiễm trùng).
– Đề phòng hạ huyết áp (ví dụ trong trường hợp có liên quan với gây mê toàn thân, gây tê ngoài màng cứng hoặc tủy sống).
– Pha loãng máu.
– Tuần hoàn ngoài cơ thể.

Chống chỉ định

Không được dùng Hemohes trong các trường hợp :
– Đã biết là bị mẫn cảm với Hydroxyethyl Starch.
– Tăng thể tích máu.
– Ứ nước.
– Suy tim trầm trọng.
– Rối loạn đông máu trầm trọng.
Chỉ được dùng Hemohes với điều kiện hết sức thận trọng trong các trường hợp :
– Tăng natri máu, vì trong thành phần của Hemohes có bổ sung natri.
– Tình trạng mất nước, vì trong các trường hợp đó việc đầu tiên là cần phải điều chỉnh cân bằng nước-điện giải.
– Rối loạn đông máu, vì việc sử dụng thuốc dẫn đến tình trạng pha loãng các yếu tố đông máu.
– Suy thận, vì đây là đường bài tiết bình thường của Hydroxyethyl Starch.
– Bệnh gan mãn, vì việc tổng hợp albumin và các yếu tố đông máu trong gan có thể bị ảnh hưởng và việc sử dụng thuốc lại càng làm chúng bị pha loãng hơn.

Thận trọng lúc dùng

Cần phải lưu ý đến những phòng ngừa sau đây :
Các chất điện giải cần được bù đắp hoặc bổ sung nếu cần.
Các kiểm soát cần thiết :
Cần phải theo dõi ion đồ huyết thanh và cân bằng nước-điện giải, đặc biệt là trong trường hợp tăng natri máu, tình trạng mất nước và suy thận.
Trong trường hợp có rối loạn đông máu và bệnh gan mãn cần phải theo dõi các chỉ số đông máu và albumin huyết thanh.
Do khả năng các phản ứng dị ứng (phản vệ/thể phản vệ) có thể xảy ra, việc theo dõi người bệnh là thực sự cần thiết.
Sử dụng trong nhi khoa :
Hiện chưa có kinh nghiệm gì khi chỉ định cho trẻ em dưới một tuổi.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Sau khi dùng nhắc lại liều cao hàng ngày trên động vật, có dấu hiệu chứng tỏ gây độc cho thai và gây quái thai. Có thể điều này có liên quan tới việc dùng liều cao quá mức và kéo dài, mặc dù không loại trừ khả năng là do tác dụng riêng của thuốc gây ra. Hơn nữa, do nguy cơ gây ra các phản ứng dị ứng (phản vệ/thể phản vệ), mà điều này thì cũng không bị loại trừ, chỉ nên sử dụng Hemohes trong lúc có thai nếu đã cân nhắc thiệt hơn giữa lợi ích mong chờ với rủi ro tiềm tàng đem lại cho thai nhi.
Cho đến nay việc sử dụng sản phẩm này ở các bà mẹ đang trong thời kỳ cho con bú vẫn chưa thu được kinh nghiệm gì.
Tương tác thuốc
Khi sử dụng cho những bệnh nhân chưa xác định được nhóm máu, cần phải lấy mẫu máu để phân loại nhóm máu và xác định các ngưng kết bất thường trước khi truyền một lượng lớn Hydroxyethyl Starch (để tránh kết quả dương tính giả).

Có thể thấy nồng độ á-amylase huyết thanh tạm thời tăng cao khoảng gấp 3 lần giới hạn trên của mức bình thường sau khi truyền các dung dịch Hydroxyethyl Starch. Sở dĩ có sự tăng cường hoạt động của á-amylase là do có sự tạo phức enzym-chất nền giữa amylase và Hydroxyethyl Starch, làm chậm sự bài tiết qua thận và do đó không được coi điều đó là triệu chứng của thiểu năng tụy.

Tác dụng ngoại ý

Giống như tất cả các dung dịch keo thay thế thể tích, phản ứng dị ứng (phản vệ hoặc thể phản vệ) với mức độ nghiêm trọng khác nhau có thể xảy ra sau khi truyền Hemohes. Chúng biểu hiện như là các phản ứng của da (nổi mề đay) hoặc có thể gây đỏ bừng mặt và cổ. Rất hiếm khi xảy ra trường hợp bị tụt huyết áp, sốc hoặc ngừng tim và hô hấp.

Các nguyên tắc chung trong phòng ngừa và điều trị các tác dụng phụ gây dị ứng (phản vệ/thể phản vệ) :
Bảng 1 : Cấp độ và biểu hiện lâm sàng :

Cho 1 viên
Fursultiamine 50 mg
Pyridoxin hydroclorid 250 mg
Methylcobalamin 500 mcg

Tính chất
Fursultiamine (TTFD) là dẫn xuất từ thiamine (vitamin B1) có ưu điểm hấp thu tốt hơn qua đường tiêu hóa. TTFD chuyển hóa nhanh hơn sang cocarboxylase là dạng hoạt động của thiamine giúp quá trình biến dưỡng glucose tốt hơn, tạo năng lượng cần thiết cho các tế bào đặc biệt là các tế bào thần kinh.

Vitamin B1, B6, B12 là những vitamin tan trong nước và giữ nhiều vai trò quan trọng trong chuyển hóa của cơ thể. Ở liều cao chúng có tác dụng điều trị các chứng đau nhức có nguồn gốc thần kinh. Vitamin B12 còn tham gia vào quá trình tạo máu của tủy xương.

Chỉ định

Hỗ trợ điều trị các chứng đau nhức do các bệnh lý thần kinh, đau khớp, bệnh yếu cơ, các rối loạn do nghiện rượu lâu năm.

Hỗ trợ điều trị các tình trạng thiếu máu mạn tính: thiếu máu do nhiễm ký sinh trùng đường ruột, thiếu máu ác tính, thiếu máu do thiếu dinh dưỡng.
Chống chỉ định
Quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Chú ý đề phòng
Dùng pyridoxin kéo dài với liều 200 mg/ngày có thể thấy các biểu hiện độc tính thần kinh (bệnh thần kinh ngoại vi, bệnh thần kinh cảm giác nặng). Dùng liều 200 mg pyridoxin mỗi ngày kéo dài trên 30 ngày có thể gây hội chứng lệ thuộc pyridoxin.
Nên hỏi ý kiến bác sĩ nếu dùng cho trẻ em < 12 tuổi.

Tương tác thuốc

Isoniazide làm tăng tác dụng đối kháng với Vitamin B6 bằng cách ức chế sự tạo thành dạng coenzyme của nó.
Cycloserine và hydralazine cũng là những chất đối kháng với Vitamin B6. Việc dùng Vitamin B6 làm giảm những ảnh hưởng lên thần kinh của các thuốc này.
Vitamin B6 làm tăng tác dụng khử carbon ngoại biên của levodopa và do đó làm giảm hiệu quả của thuốc trong điều trị bệnh Parkinson.
Tác dụng ngoại ý
Hiếm gặp: nổi mẩn da hoặc tiêu chảy.
Liều lượng và cách dùng
Người lớn và trẻ em > 12 tuổi: uống 1 viên mỗi ngày.
Trường hợp đau dây thần kinh, đau khớp: 1-2 viên x 2 lần mỗi ngày.
Không dùng quá 30 ngày.
Bảo quản
Nơi khô mát, tránh ánh sáng.

Nguồn: Vidal Việt Nam 2012

Thuốc Diazepam

Thuốc diazepam có tác dụng an thần, điều trị các triệu chứng cai rượu và co giật. Thuốc này còn được dùng để giảm co thắt cơ và giảm đau trước các thủ thuật y khoa.

Thuốc Diazepam
Thuốc Diazepam

Diazepam thuộc nhóm thuốc benzodiazepine, tác động lên não bộ và dây thần kinh (hệ thống thần kinh trung ương) tạo ra tác dụng an thần. Thuốc hoạt động bằng cách tăng tác dụng của GABA (một loại hóa chất tự nhiên nhất định trong cơ thể).

Tên chung quốc tế: Diazepam

Tên hoạt chất: Diazepam

Thương hiệu thuốc: Valium, Pyme Sezipam, Alzepam, Anlin, Anxiol, Balidium, Cellkam, Diano, Diapine, Diazemuls, Diazepam DBL, Diazepam Desitin, Diazepam General Drugs House, Diazepam Kyowa Yakuhin, Seduxen® và Diazepam.

Dạng thuốc và hàm lượng:

Viên nén 2 mg, 5 mg;Thuốc tiêm: 10 mg/2 ml, 50 mg/10 ml;Thuốc đặt trực tràng: 5 mg, 10 mg;Dạng thụt hậu môn: ống 5 mg, 10 mg.

Chỉ định: Trạng thái động kinh, xử trí cấp cứu cơn động kinh tái phát; co giật do sốt cao; co giật do cai rượu hoặc cai ma tuý, rối loạn lo âu và mất ngủ (Mục 24.3), tiền mê (Mục 1.3).

Chống chỉ định: Mẫn cảm thuốc; suy hô hấp; nhược cơ; suy gan nặng; ngừng thở khi ngủ; tránh thuốc tiêm có chứa phenylmethanol (Benzyl alcohol) cho trẻ sơ sinh.

Thận trọng: Suy gan (Phụ lục 5); suy thận (Phụ lục 4); nhược cơ; nghiện rượu hoặc ma tuý; rối loạn nặng nhân cách; mang thai (Phụ lục 2); cho con bú (Phụ lục 3); tránh dùng dài ngày và ngừng thuốc đột ngột; cần phải có phương tiện cấp cứu suy hô hấp khi tiêm tĩnh mạch. Người cao tuổi, người suy yếu phải giảm liều dùng. Tương tác thuốc (Phụ lục 1).

Liều lượng và cách dùng:

Cơn động kinh liên tục hoặc xử trí cơn động kinh tái diễn: Người lớn tiêm tĩnh mạch chậm (5 mg/phút) 10 – 20 mg, tiêm nhắc lại sau 30 – 60 phút nếu cần thiết; sau đó có thể truyền tĩnh mạch tối đa là 3 mg/kg trong 24 giờ. Trẻ em: tiêm tĩnh mạch chậm 200 – 300 microgam/kg (hoặc 1 mg cho mỗi năm tuổi). Thụt theo đường trực tràng: trẻ em từ 10 – 15 kg: 1 ống 5 mg; trên 15 kg: 1 ống 10 mg; người lớn 0,5 mg/kg (2 ống 10 mg); người cao tuổi và người suy yếu không dùng quá 1/2 liều người lớn. Có thể nhắc lại 12 giờ 1 lần nếu cần. Nếu không kiểm soát được co giật thì phải dùng các biện pháp khác.

Co giật do sốt cao: Thụt dung dịch vào trực tràng là biện pháp được ưa dùng. Trẻ trên 10 kg: 500 microgam/kg (tối đa 10 mg); nhắc lại nếu cần; co giật do sốt cao còn có thể dùng đường tiêm tĩnh mạch chậm (trẻ em 200 – 300 microgam/kg hoặc 1 mg cho mỗi năm tuổi).

Điều trị cắt cơn nghiện ma tuý hoặc rượu: Tiêm tĩnh mạch chậm (5 mg/phút). Người lớn: 10 mg. Có thể phải dùng liều cao hơn tuỳ theo mức độ nặng của triệu chứng.

Co giật do ngộ độc: Tiêm tĩnh mạch chậm (5 mg/phút), người lớn: 10 – 20 mg.

Tác dụng không mong muốn:

Buồn ngủ, lú lẫn, loạng choạng, quên, phụ thuộc thuốc, hung hăng, yếu cơ, nhức đầu, chóng mặt, rối loạn tiết nước bọt; rối loạn tiêu hóa, nổi mẩn, rối loạn thị giác, nói khó, run đầu chi; rối loạn tình dục; bí đái hoặc không kiểm soát được tiểu tiện; rối loạn về huyết học; vàng da; tăng enzym gan; hạ huyết áp; ngừng thở; đau và viêm tĩnh mạch (nếu tiêm).

Xử trí ADR: Dùng liều thấp nhất có tác dụng; tránh dùng thuốc quá 15 – 20 ngày (để tránh nghiện thuốc); khi có triệu chứng quá liều (ngủ gà, lú lẫn, hôn mê, giảm phản xạ) phải theo dõi hô hấp, tim mạch. Truyền dịch, đảm bảo thông khí; chống hạ huyết áp bằng noradrenalin hoặc metaraminol. Có thể dùng flumazenil.

Độ ổn định và bảo quản: Bảo quản ở nhiệt độ dưới 25oC, tránh ánh sáng. Không để thuốc tiêm ở nhiệt độ đóng băng.

Thận trọng trước khi dùng

Trước khi dùng diazepam, bạn nên:

  • Báo với bác sĩ và dược sĩ nếu bạn bị dị ứng với diazepam, alprazolam (Xanax), chlordiazepoxide (Librium, Librax), clonazepam (Klonopin), clorazepate (Tranxene), estazolam (ProSom), flurazepam (Dalmane), lorazepam (Ativan), oxazepam (Serax), prazepam (Centrax), temazepam (Restoril), triazolam (Halcion) hay bất kỳ thuốc nào khác.

Báo với bác sĩ và dược sĩ về những thuốc kê toa hoặc không kê toa mà bạn đang dùng, đặc biêt là:

  • Các thuốc kháng histamine; cimetidine (Tagamet); digoxin (Lanoxin); disulfiram (Antabuse); fluoxetine (Prozac); isoniazid (INH, Laniazid, Nydrazid); ketoconazole (Nizoral); levodopa (Larodopa, Sinemet); thuốc trầm cảm, động kinh, giảm đau, điều trị Parkinson, hen suyễn, cảm lạnh hoặc dị ứng; metoprolol (Lopressor, Toprol XL); thuốc giãn cơ, thuốc tránh thai đường uống; probenecid (Benemid); propoxyphene (Darvon); propranolol (Inderal); ranitidine (Zantac); rifampin (Rifadin); thuốc an thần, thuốc ngủ; theophylline (Theo-Dur); axit valproic (Depakene); và các loại vitamin. Những thuốc này có thể làm trầm trọng hơn triệu chứng uể oải do diazepam gây ra;
  • Nếu bạn dùng thuốc kháng axit, hãy uống diazepam một tiếng trước khi uống các thuốc này;
  • Hãy báo với bác sĩ nếu bạn mắc bệnh tăng nhãn áp, co giật hay các bệnh về phổi, tim, gan;
  • Hãy báo với bác sĩ nếu bạn mang thai, dự định mang thai hoặc cho con bú. Nếu bạn mang thai trong thời gian dùng diazepam, hãy báo với bác sĩ ngay lập tức, hãy trao đổi với bác sĩ về những nguy cơ hoặc lợi ích của việc dùng diazepam nếu bạn từ 65 tuổi trở lên. Người cao tuổi không nên dùng diazepam;
  • Nếu bạn có phẫu thuật, thậm chí là phẫu thuật nha khoa, hãy nói với bác sĩ hoặc nha sĩ rằng bạn đang dùng diazepam;
  • Thuốc này có thể làm bạn buồn ngủ, vì thế bạn không nên lái xe hay vận hành máy móc nặng cho tới khi biết rõ tác dụng của thuốc;
  • Nhớ rằng rượu có thể làm trầm trọng hơn tình trạng uể oải do diazepam gây ra.

Hãy nói với bác sĩ nếu bạn hút thuốc lá. Hút thuốc có thể làm giảm tác dụng thuốc.

Những điều cần lưu ý nếu bạn đang mang thai hoặc cho con bú

Vẫn chưa có đầy đủ các nghiên cứu để xác định rủi ro khi dùng thuốc này trong thời kỳ mang thai hoặc cho con bú. Trước khi dùng thuốc, hãy luôn hỏi ý kiến bác sĩ để cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ.

Nguồn tổng hợp

Thuốc Dexmedetomidine

Dexmedetomidine được dùng trong việc điều trị, kiểm soát, phòng chống, & cải thiện những bệnh, hội chứng, và triệu chứng An thần cho bệnh nhân người lớn trong môi trường chăm sóc đặc biệt trong phẫu thuật

Thuốc DEXMEDETOMIDINE
Thuốc DEXMEDETOMIDINE
  • Precedex
  • Dexmedetomidine hydrochloride
  • Hospira
  • Zuellig Pharma
PRECEDEX Hospira c/o Zuellig Pharma

Dung dịch tiêm 100 mcg/ml : hộp 25 lọ, lọ 2 ml
Thành phần

Cho 1 ml
Dexmedetomidine hydrochloride 118 mg
Tương đương : Dexmedetomidine base 100 mg

Dược lý lâm sàng
Dexmedetomidine là một chất chủ vận chọn lọc tương đối với thụ thể alpha2-adrenoreceptor với tác dụng an thần. Tính chọn lọc trên alpha2 được thấy ở động vật sau khi truyền tĩnh mạch chậm các liều thấp và trung bình (10-300 mcg/kg). Hoạt tính lên cả alpha1 và alpha2 được thấy sau khi truyền tĩnh mạch chậm các liều cao (1000 mcg/kg) hoặc tiêm tĩnh mạch nhanh.

Trong một nghiên cứu trên người tình nguyện khoẻ mạnh (N=10), chỉ số hô hấp và bão hoà ôxi vẫn nằm trong giới hạn bình thường và không có bằng chứng của suy hô hấp khi dùng Precedex truyền tĩnh mạch ở các liều nằm trong mức liều khuyến cáo (0,2-0,7 mcg/kg/giờ).

Dược động học

Sau khi tiêm tĩnh mạch, dexmedetomidine có các đặc tính dược động học sau: pha phân bố nhanh với thời gian bán phân bố (t1/2a) khoảng 6 phút; thời gian bán thải giai đoạn cuối (t1/2) khoảng 2 giờ; thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (Vss) khoảng 118 lít. Độ thanh thải có giá trị ước tính là khoảng 39 L/giờ. Thể trọng trung bình đi với đánh giá độ thanh thải này là 72 kg.

Dexmedetomidin có động học tuyến tính trong khoảng liều từ 0,2 đến 0,7 µg/kg/giờ khi dùng truyền tĩnh mạch cho tới 24 giờ. Bảng 1 cho thấy các thông số dược động học chính khi truyền Precedex (sau các liều ban đầu thích hợp) ở các tốc độ truyền duy trì 0,17 mcg/kg/giờ (nồng độ dự định đạt được là 0,3 ng/ml) trong 12 và 24 giờ; 0,33 mcg/kg/giờ (nồng độ dự định đạt được là 0,6 ng/ml) trong 24 giờ, và 0,70 mcg/kg/giờ (nồng độ dự định đạt được là 1,25 ng/ml) trong 24 giờ.

Phân bố:

Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (Vss) của dexmedetomidin khoảng 118 lít. Liên kết với protein của dexmedetomidine đã được đánh giá trong huyết tương của nam giới và nữ giới tình nguyện. Giá trị liên kết protein trung bình là 94% và hằng định qua các nồng độ khác nhau đã được thử. Liên kết protein là tương tự ở nam giới và nữ giới. Phần dexmedetomidine hydrochlorid liên kết với protein huyết tương giảm đáng kể ở các bệnh nhân suy gan so với người khoẻ mạnh.

Khả năng chiếm chỗ gắn kết của dexmedetomidine bởi fentanyl, ketorolac, theophyllin, digoxin và lidocain đã được khảo sát kỹ lưỡng trong in vitro, cho thấy thay đổi không đáng kể trong liên kết với protein huyết tương của dexmedetomidine. Khả năng chiếm chỗ gắn kết của phenytoin, warfarin, ibuprofen, propranolol, theophylline và digoxin bởi dexmedetomidine đã được khảo sát kỹ lưỡng trong in vitro và không có chất nào có vẻ bị chiếm chỗ đáng kể bởi dexmedetomidine.

Chuyển hoá:

Dexmedetomidine bị chuyển hoá sinh học hầu như hoàn toàn với lượng rất nhỏ dexmedetomidine được thải trừ qua nước tiểu và phân. Chuyển hoá sinh học bao gồm glucuronid hoá trực tiếp và chuyển hoá qua trung gian cytochrome P450. Các đường chuyển hoá chính của dexmedetomidine là N-glucuronid hoá trực tiếp thành các chất chuyển hoá không có hoạt tính; hydroxyl hoá phần chất béo (chủ yếu qua trung gian CYP2A6) của dexmedetomidine để tạo thành 3-hydroxy dexmedetomidine; và N-methyl hoá dexmedetomidine để tạo thành 3-hydroxy N-methyl dexmedetomidine, 3-carboxy N-methyl dexmedetomidine, và N-methyl-O-glucuronid dexmedetomidine.
Thải trừ:
Thời gian bán thải giai đoạn cuối (t1/2) khoảng 2 giờ và độ thanh thải có giá trị ước tính là khoảng 39 L/giờ. Một nghiên cứu cân bằng khối chứng tỏ rằng sau 9 ngày có trung bình khoảng 95% hoạt độ phóng xạ, sau khi tiêm tĩnh mạch dexmedetomidine đánh dấu phóng xạ, được phát hiện trong nước tiểu và 4% qua phân. Không có dexmedetomidine ở dạng không đổi được phát hiện trong nước tiểu. Khoảng 85% hoạt độ phóng xạ phát hiện trong nước tiểu được thải trừ trong vòng 24 giờ sau khi truyền. Phân đoạn hoạt độ phóng xạ thải trừ trong nước tiểu chứng tỏ rằng các sản phẩm N-glucuronid hoá chiếm khoảng 34% tổng bài tiết qua nước tiểu. Thêm vào đó, hydroxyl hoá phần chất béo của thuốc mẹ để tạo thành 3-hydroxy dexmedetomidine, glucuronid của 3-hydroxy dexmedetomidine và 3-carboxylic dexmedetomidine cùng nhau chiếm khoảng 14% của liều trong nước tiểu. N-methyl hoá dexmedetomidine để tạo thành 3-hydroxy N-methyl dexmedetomidine, 3-carboxy N-methyl dexmedetomidine, và N-methyl-O-glucuronid dexmedetomidine chiếm khoảng 18% của liều trong nước tiểu. Chất chuyển hoá N-Methyl bản thân nó là một chất có rất ít và không phát hiện được trong nước tiểu. Khoảng 28% các chất chuyển hoá trong nước tiểu không xác định được.
Giới:
Không thấy có khác biệt về dược động học của dexmedetomidine do giới tính.
Lão khoa:
Dược động học của dexmedetomidine không bị ảnh hưởng bởi tuổi. Không thấy có khác biệt về dược động học của dexmedetomidine ở người trẻ (18-40 tuổi), trung niên (41-65 tuổi) và người già (> 65 tuổi).
Nhi khoa:
Dược động học của dexmedetomidine chưa được nghiên cứu ở trẻ em.
Suy thận:
Dược động học của dexmedetomidine hydrochlorid (Cmax, Tmax, AUC, t, CL và Vss) là không khác biệt ở những người bị suy thận nặng (thanh thải creatinin < 30 ml/phút) so với người khoẻ mạnh. Tuy nhiên, dược động học của các chất chuyển hoá của dexmedetomidine chưa được đánh giá ở các bệnh nhân suy chức năng thận. Vì phần chính của các chất chuyển hoá được bài tiết qua thận, có lẽ các chất chuyển hoá có thể bị tích luỹ sau khi truyền thời gian dài cho các bệnh nhân suy chức năng thận (xem Thận trọng, Liều dùng và Cách dùng).

Suy gan:

Ở các bệnh nhân với mức độ suy gan khác nhau (Child-Pugh nhóm A, B hoặc C), các giá trị thanh thải là thấp hơn so với người khoẻ mạnh. Giá trị thanh thải trung bình cho những người bị suy gan nhẹ, vừa và nặng là 74%, 64% và 53%, so với mức ở người khoẻ mạnh bình thường, một cách tương ứng. Thanh thải trung bình cho thuốc tự do là 59%, 51% và 32% so với mức ở người khoẻ mạnh bình thường, một cách tương ứng.
Mặc dù Precedex được định liều theo tác dụng, có thể cần xem xét giảm liều cho các bệnh nhân suy gan (xem Thận trọng: Suy gan và Liều lượng và cách dùng).
Chỉ định

Precedex được chỉ định để an thần cho các bệnh nhân bắt đầu đặt ống nội khí quản và thông khí nhân tạo trong khi điều trị trong tiến hành điều trị tích cực. Precedex phải được dùng truyền liên tục không quá 24 giờ.

Chống chỉ định
Chống chỉ định Precedex cho các bệnh nhân mẫn cảm với dexmedetomidine và trẻ em dưới 18 tuổi.
Chú ý đề phòng

Precedex chỉ được sử dụng bởi những người có kỹ năng trong việc trông nom các bệnh nhân trong khi tiến hành điều trị tích cực. Do các tác dụng dược lý đã biết, bệnh nhân phải được theo dõi liên tục trong khi dùng Precedex.
Các tình trạng đáng kể trên lâm sàng về nhịp tim chậm và ngừng xoang là có liên quan với việc dùng Precedex ở những người tình nguyện trẻ và khoẻ mạnh với trương lực dây thần kinh phế vị cao hoặc với các đường dùng khác nhau bao gồm tiêm tĩnh mạch nhanh hoặc tiêm nhanh.
Thận trọng lúc dùng
Một số bệnh nhân dùng Precedex đã được thấy là dễ tỉnh và cảnh giác khi bị kích thích. Chỉ riêng điều này không được xem là bằng chứng của sự không có tác dụng nếu thiếu các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng khác.

Đã có các báo cáo chậm nhịp tim và hạ áp liên quan với truyền Precedex. Nếu cần can thiệp y tế, việc điều trị có thể bao gồm việc giảm hoặc ngừng truyền Precedex, tăng tốc độ truyền dịch tĩnh mạch, để cao chi dưới hoặc dùng các thuốc tăng áp. Vì Precedex có khả năng làm tăng chứng chậm nhịp gây bởi kích thích thần kinh phế vị, thầy thuốc phải chuẩn bị để sẵn sàng can thiệp. Tiêm tĩnh mạch các thuốc kháng cholinergic (ví dụ atropin) phải được xem xét để điều chỉnh trương lực thần kinh phế vị. Trong các thử nghiệm lâm sàng, atropin hoặc glycopyrrolat là có hiệu quả để điều trị hầu hết các cơn nhịp chậm gây bởi Precedex. Tuy nhiên, ở vài bệnh nhân bị suy chức năng tim mạch đáng kể, cần có thêm các biện pháp phục hồi sâu hơn.

Cần thận trọng khi dùng Precedex cho các bệnh nhân bị blốc tim tiến triển và suy giảm chức năng tâm thất trầm trọng. Do Precedex làm giảm hoạt động hệ thống thần kinh cảm xúc, giảm huyết áp và/ hoặc nhịp tim chậm được dự đoán có thể xảy ra ở bệnh nhận có lưu lượng máu giảm và ở những bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường hoặc bệnh nhân cao huyết áp mạn tính và ở người lớn tuổi.

Trong trường hợp sử dụng các thuốc gây giãn mạch hoặc thuốc điều nhịp âm, việc sử dụng đồng thời với Precedex có thể có tác dụng dược động học phụ và phải cẩn trọng khi sử dụng.

Cao huyết áp thoáng qua đã được thấy chủ yếu trong khi dùng liều đầu, liên quan với các tác dụng co mạch ngoại biên ban đầu của Precedex. Điều trị chứng cao huyết áp thoáng qua này nói chung là không cần thiết, mặc dù việc giảm tốc độ truyền có thể là tốt.
Precedex truyền không được dùng qua cùng catheter tĩnh mạch với máu hoặc huyết tương vì tính tương hợp về vật lý là chưa được đánh giá. An toàn và hiệu quả của dexmedetomidine chưa được đánh giá khi truyền kéo dài trên 24 giờ. Dexmedetomidine không được chỉ định để truyền kéo dài trên 24 giờ (xem Chỉ định, Liều lượng và cách dùng).

Ngừng thuốc:

Mặc dù chưa có nghiên cứu đặc hiệu, nếu Precedex được truyền lâu dài và ngừng lại đột ngột, các triệu chứng ngừng thuốc tương tự với các triệu chứng được báo cáo cho một thuốc alpha-2 adrenergic khác là clonidine có thể xảy ra. Các triệu chứng này bao gồm căng thẳng, kích động, và đau đầu, đi kèm hoặc tiếp theo bởi sự tăng nhanh huyết áp và tăng nồng độ catecholamin trong huyết tương. Precedex không được dùng quá 24 giờ (xem Chỉ định, Liều lượng và cách dùng).

Suy thượng thận:
Dexmedetomidine không có tác dụng lên sự giải phóng cortisol do kích thích ACTH ở chó sau khi dùng một liều đơn, tuy nhiên, sau khi truyền dưới da dexmedetomidine trong một tuần, đáp ứng cortisol với ACTH đã mất khoảng 40%.
Suy gan:
Vì thanh thải dexmedetomidine giảm khi bị suy gan nặng, phải xem xét giảm liều ở các bệnh nhân suy chức năng gan (xem Dược lý lâm sàng, Dược động học, Liều lượng và Cách dùng).

Tính gây ung thư, đột biến và suy giảm khả năng sinh sản:
Các nghiên cứu tính gây ung thư trên động vật chưa được tiến hành với dexmedetomidine.
Dexmedetomidine không phải là chất gây đột biến gen trong in vitro, trong thử nghiệm đột biến nghịch ở vi khuẩn (E. coli và Salmonella typhimurium) hoặc thử nghiệm đột biến sớm ở tế bào động vật có vú (u bạch huyết chuột nhắt).
Dexmedetomidine có tính gây gẫy gen trong thử nghiệm sai lệch nhiễm sắc thể ở tế bào bạch cầu người trong in vitro với sự hoạt hoá chuyển hoá, nhưng không có tính này khi không có hoạt hoá chuyển hoá. Dexmedetomidine cũng có tính gây gẫy gen trong thử nghiệm vi nhân ở chuột nhắt in vivo.

Khả năng sinh sản của chuột cống đực hoặc cái không bị ảnh hưởng sau khi tiêm dưới da hàng ngày với các liều lên tới 54 mcgkg (ít hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2). Dexmedetomidine đã được dùng trước 10 tuần trước khi giao phối ở chuột đực và 3 tuần trước khi giao phối và trong khi giao phối ở chuột cái.
Nhi khoa:
Không có các nghiên cứu về an toàn và hiệu quả của Precedex ở trẻ em dưới 18 tuổi. Vì vậy, không khuyên dùng Precedex cho lứa tuổi này.
Lão khoa:
Trong các nghiên cứu lâm sàng, tổng số người 65 tuổi hoặc hơn là 531. Tổng số người 75 tuổi hoặc hơn là 129. Ở các bệnh nhân lớn hơn 65 tuổi, tỷ lệ cao hơn về chậm nhịp tim và hạ huyết áp đã được thấy khi dùng Precedex. Vì vậy, có thể xem xét giảm liều cho các bệnh nhân trên 65 tuổi.

Dexmedetomidine được biết là bài tiết một phần bởi thận, và nguy cơ tác dụng bất lợi với thuốc này có thể lớn hơn ở các bệnh nhân suy chức năng thận. Vì các bệnh nhân già là thường có giảm chức năng thận, nên cẩn thận khi chọn liều cho các bệnh nhân già, và kiểm soát chức năng thận có thể có ích.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Có thai:
Tác dụng sinh quái thai:Pregnancy Category C.

Tác dụng sinh quái thai không được thấy sau khi dùng dexmedetomidine ở các liều tiêm dưới da cao tới 200 mg/kg từ ngày có thai thứ 5 tới thứ 16 ở chuột cống và các liều tiêm tĩnh mạch cao tới 96 mg/kg từ ngày có thai thứ 6 tới thứ 18 ở thỏ. Liều này ở chuột cống là gấp khoảng 2 lần liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2. Sự tiếp xúc với thuốc ở thỏ là gần tương đương với người ở liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo giá trị diện tích dưới đường cong huyết tương. Tuy nhiên, độc tính với thai nhi, thể hiện bởi sự sẩy sau khi trứng đã làm tổ và giảm số con non sống, đã được thấy ở chuột ở liều tiêm dưới da 200 mcg/kg. Liều không có tác dụng là 20 mcg/kg (thấp hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2). Trong một nghiên cứu về sinh sản khác, Dexmedetomidine được dùng tiêm dưới da cho chuột cống có thai từ ngày thụ thai thứ 16 tới khi cho con bú, nó gây giảm trọng lượng con non ở liều 8 và 32 mcg/kg cũng như độc tính gây chết phôi và độc tính với thai ở thế hệ con non thứ hai ở liều 32 mcg/kg (ít hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2). Dexmedetomidine cũng gây chậm phát triển vận động ở con non ở liều 32 mcg/kg (ít hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2). Không thấy có tác dụng như vậy ở liều 2 mcg/kg (ít hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2).
Đã thấy dexmedetomidine đi qua nhau thai khi tiêm dưới da dexmedetomidine cho chuột cống mang thai.
Không có các nghiên cứu được kiểm soát tốt và đầy đủ trên phụ nữ có thai. Dexmedetomidine chỉ nên dùng trong khi mang thai nếu lợi ích lớn hơn nguy cơ tiềm tàng cho thai nhi.

Chuyển dạ và sinh nở:
An toàn của Precedex trên phụ nữ chuyển dạ và sinh nở chưa được nghiên cứu, vì vậy, không khuyên dùng trong khi chuyển dạ và sinh nở, bao gồm cả mổ đẻ.
Phụ nữ cho con bú:
Không biết là Precedex có bài tiết qua sữa hay không. Dexmedetomidine đánh dấu phóng xạ dùng tiêm dưới da cho chuột cái cho con bú được bài tiết vào sữa.Vì nhiều thuốc là bài tiết qua sữa nên thận trọng khi dùng Precedex truyền cho phụ nữ cho con bú.

Tương tác thuốc

Các nghiên cứu in vitro trên microsom gan người chỉ ra rằng không có các bằng chứng về tương tác thuốc qua trung gian cytochrome P450 nào có thể có liên hệ trên lâm sàng.

Thuốc gây mê/ an thần/gây ngủ/opioid:

Dùng đồng thời Precedex có khả năng dẫn đến tăng các tác dụng của các thuốc gây mê, an thần, gây ngủ và opioid. Các nghiên cứu đặc hiệu đã xác nhận các tác dụng này với sevoflurane, isoflurane, propofol, alfetanil và midazolam. Không có tương tác dược động học giữa Precedex và isoflurane, propofol, alfetanil và midazolam đã được chứng tỏ. Tuy nhiên, do các tương tác dược động lực học có thể có, khi dùng đồng thời với Precedex, có thể cần giảm liều của Precedex do các thuốc gây mê, an thần, gây ngủ và opioid dùng đồng thời.

Các thuốc chẹn thần kinh cơ:
Trong một nghiên cứu trên 10 người tình nguyện khoẻ mạnh, dùng Precedex trong 45 phút với nồng độ trong huyết tương là 1 ng/ml không gây ra sự tăng có ý nghĩa lâm sàng về độ lớn của sự chẹn thần kinh cơ đi kèm với dùng rocuronium.

Tác dụng ngoại ý

Các thông tin về sự kiện bất lợi được lấy từ các thử nghiệm truyền liên tục, có kiểm chứng placebo, về dùng dexmedetomidine để an thần trong tiến hành điều trị tích cực trong đó 387 bệnh nhân dùng Precedex. Nhìn toàn thể, các tác dụng bất lợi xuất hiện trong điều trị được thấy thường xuyên nhất bao gồm hạ áp, tăng áp, buồn nôn, chậm nhịp tim, sốt, nôn, thiếu ôxi thở vào, nhịp nhanh và thiếu máu

Các tác dụng bất lợi xuất hiện trong điều trị ở bảng 6 là được báo cáo ở ≤ 1% tất cả các bệnh nhân điều trị bằng dexmedetomidine mà chắc là có liên quan lâm sàng.

Liều lượng và cách dùng
Dung nạp của Precedex đã được ghi nhận trong một nghiên cứu trong đó những người khoẻ mạnh đã dùng các liều ngang và trên liều khuyến cáo từ 0,2 đến 0,7 mcg/kg/giờ. Nồng độ trong máu tối đa đạt được trong nghiên cứu này là khoảng 13 lần cao hơn giới hạn trên của mức điều trị. Các tác dụng đáng lưu ý nhất được thấy ở 2 người có nồng độ trong huyết tương cao nhất là blốc AV cấp 1 và blốc tim cấp 2. Không có thương tổn huyết động được thấy với blốc AV và blốc tim mà mất ngay trong vòng một phút.

Điều chỉnh liều:
Có thể xem xét giảm liều với các bệnh nhân suy gan và suy thận (Xem Dược lý lâm sàng, Dược động học và Thận trọng, Suy gan).
Pha loãng thuốc trước khi dùng: Precedex phải được pha loãng với dung dịch natri chlorid 0,9% trước khi dùng.

Pha chế dung dịch là giống nhau cả cho liều nạp ban đầu và liều duy trì.
Để pha dịch truyền, lấy 2 ml Precedex và thêm 48 ml thuốc tiêm natri chlorid 0,9% đến đủ 50 ml. Lắc nhẹ để trộn đều.

Tương kỵ với các dung dịch khác:

Tính tương hợp của Precedex với việc dùng đồng thời máu, huyết tương hoặc huyết thanh vẫn chưa được đánh giá. Precedex đã được thấy là tương hợp khi dùng với các dịch truyền tĩnh mạch và các thuốc sau:
Dextrose 5% trong nước, Natri chlorid 0,9% trong nước, Mannitol 20%, alfentanil hydrochlorid, amikacin sulfat, aminophylline, aminodarone hydrochlorid, natri ampicillin, ampicillin natri- sulbactatam natri, atracurium besylat, atropine sulfat, azithromycin, aztreonam, bretylium tysylat, bumetanid, butorphanol tartrat, calci gloconat, cefazolin natri, cefepime hydrochlorid, cefoperazone natri, ceftriaxone natri, cefuroxime natri, chlorpromazine hydrochloric, cimetidine hydrochlorid, ciprofloxacin, cisatracurium besylat, clindamycin phosphat, dexamethasone natri phosphat, digoxin, diltiazem hydrochlorid, diphenhydramin hydrochlorid, dolbutamine hydrochlorid, dolasetron mesylat, dopamine hydrochlorid, doxycyclinhyclat, droperidol, enalaprilat, ephedrine hydrochlorid, enpinephrin hydrochlorid, erythromycin lactobionat, esmolol etomidat, famotidin, fenoldopam mesylat, fentanyl citrat, fluconazole, furosemid, gatifloxacin, gentamicin sulfat, glycopyrrolat bromid, granisetron hydrochlorid, haloperidol lactate, heparin natri, hydrocortisone natri succinat, hydromorphon hydrochlorid, hydroxyzin, hydroxyzin hydrochlorid, inamrinon lactate, isoporterenol hydrochlorid, ketorolac tromethamin, labetalol, dung dịch Ringer lactate, levofloxacin, lidocain hydrochlorid, linezolid, lorazepam, magnesium sulfat, meperidin hydrochlorid, methylprednisolon natri succinat, metoclopramid hydrochlorid, metronidazol, midazolam, milrino lactate, mivacurium chloride, morphin sulfat, nalbuphin hydrochlorid, notroglycerin, norepinephrin bitartrat, ofloxacin, ondansetron hydrochlorid, pancuronium bromid, phenylephrine HCl, piperacillin natri, piperacillin sodium-tazobactam natri, kali clorid, procainamid hydrochlorid, prochlor perazine dedisylat, promethazine hydrochlorid, propofol, ranitidine hydrochlorid, rapacuronium bromid, remifentanil hydrochlorid, rocuronium bromi, natri bicarbonate, natri nitroprussid, succinylcholin, sufentanil citrat, sulfamethoxazole-trimethoprim, theophyllin, thiopental natri, ticarcillin dinatri, ticarcillin dinatri-clavulanat kali, tobramycin sulfat, vancomycin hydrochlorid, vecuronium bromide, verapamil hydrochlorid và và chất thay thế huyết tương.

Precedex đã được chứng minh là không tương tác khi sử dụng với các thuốc sau: amphotericin B, diazepam.

Cách thao tác:

Các sản phẩm tiêm phải được kiểm tra bằng mắt về các tiểu phân lạ và sự biến màu trước khi dùng. Kỹ thuật vô trùng nghiêm ngặt phải luôn được duy trì trong khi truyền Precedex. Các ống thuốc là chỉ để sử dụng một lần.

Các nghiên cứu tính tương hợp đã cho thấy khả năng hấp thụ của Precedex vào một số loại cao su tự nhiên. Mặc dù Precedex được định liều theo tác dụng, khuyên dùng các dụng cụ truyền có dây cao su tự nhiên đã được phủ hoặc tổng hợp.

Quá liều
Dung nạp của Precedex đã được ghi nhận trong một nghiên cứu trong đó những người khoẻ mạnh đã dùng các liều ngang và trên liều khuyến cáo từ 0,2 đến 0,7 mcg/kg/giờ. Nồng độ trong máu tối đa đạt được trong nghiên cứu này là khoảng 13 lần cao hơn giới hạn trên của mức điều trị. Các tác dụng đáng lưu ý nhất được thấy ở 2 người có nồng độ trong huyết tương cao nhất là blốc AV cấp 1 và blốc tim cấp 2. Không có thương tổn huyết động được thấy với blốc AV và blốc tim mà mất ngay trong vòng một phút.

5 bệnh nhân đã dùng quá liều Precedex trong các nghiên cứu an thần trong ICU. 2 người không có triệu chứng nào được báo cáo; 1 người dùng liều nạp ban đầu 2mcg/kg trong 10 phút (gấp 2 lần liều nạp khuyến cáo) và một người dùng truyền duy trì 0,8 mcg/kg/giờ. 2 bệnh nhân khác dùng liều nạp ban đầu 2mcg/kg trong 10 phút bị nhịp tim chậm và/hoặc hạ áp. 1 người dùng liều nạp tiêm nhanh Precedex không pha loãng (19,4 mcg/kg) đã bị ngừng tim nhưng đã hồi phục hoàn toàn.

Nguồn: Vidal Việt Nam 2012

Bupivacaine hydrochloride loại thuốc tê tại chỗ

Nhóm dược lý: Thuốc gây tê, mê

Bupivacaine hydrochloride.
Bupivacaine hydrochloride.

Tên chung quốc tế: Bupivacaine hydrochloride.

Loại thuốc: Thuốc tê tại chỗ.

Dạng thuốc và hàm lượng

Đường dùng: Thuốc tiêm bupivacain hydroclorid 0,25%; 0,50% và 0,75%.

Thuốc tiêm bupivacain và epinephrin chứa 0,25% hoặc 0,50% hoặc 0,75% bupivacain hydroclorid và 1/200.000 epinephrin bitartrat.

Thuốc tiêm bupivacain trong dextrose chứa 0,75% bupivacain hydroclorid và 8,25% dextrose.

Dược lực : Bupivacaine hydrocloride là thuốc gây tê tại chỗ. Gây tê mạnh gấp 2-4 lần so với lidocain.

Dược động học :

– Hấp thu: Tốc độ hấp thu của Bupivacain phụ thuộc vào tổng liều và nồng độ thuốc sử dụng, vào cách gây tê, sự phân bố, mạch ở vị trí tiêm và sự có mặt của epinephrin trong dịch tiêm. Epinephrin với nồng độ thấp làm giảm tốc độ hấp thu, cho phép sử dụng tổng liều tương đối lớn hơn và kéo dài thời gian gây tê tại chỗ.

– Phân bố: tuỳ thuộc vào đường tiêm, thuốc được phân bố vào mọi mô của cơ thểổơ mức độ nào đó, nồng độ cao nhất thấy ở các cơ quan được tưới máu nhiều như não, cơ tim, phổi, thận, gan. Bupivacain có khả năng liên kết với protein huyết tương cao (95%).

– Chuyển hoá: Bupivacain được chuyển hoá chủ yếu ở gan, tạo thành 2,6-pipecoloxylidin dưới dạng liên hợp với acid glucuronic.

– Thải trừ: Thuốc thải trừ chủ yếu qua nước tiểu phần lớn dưới dạng đã chuyển hoá. Chỉ có 5% bupivacain được đào thải ra nước tiểu dưới dạng không đổi.

Tác dụng : Bupivacain là thuốc gây tê tại chỗ thuộc nhóm amid, có thời gian tác dụng kéo dài. Thuốc có tác dụng phong bế có hồi phục sự dẫn truyền xung thần kinh do làm giảm tính thấm của màng tế bào thần kinh đối với ion Natri.

Bupivacain có độc tính cao hơn so với mepivacain, lidocain hay prilocain. Về thời gian tác dụng không có sự khác nhau nhiều giữa chế phẩm bupivacain chứa và không chứa epinephrin.

Thuốc cũng có thể gây tê thần kinh liên sườn, giảm đau kéo dài 7-14 giờ sau phẫu thuật và có thể gây tê tốt ngoài màng cứng trung bình trong 3-4 giờ. Bupivacain còn là thuốc thích hợp để gây tê ngoài màng cứng liên tục.

Bupivacain không có epinephrin còn được dùng để gây tê tuỷ sống trong các phẫu thuật tiết niệu, chi dưới, bụng dưới, sản khoa.

Chỉ định : Gây tê vùng, tại chỗ và giảm đau:

Gây tê phẫu thuật: Phong bế ngoài màng cứng, phong bế vùng (dây thần kinh lớn, nhỏ và gây tê tiêm thấm).

Giảm đau: Truyền liên tục hoặc cách khoảng vào khoang ngoài màng cứng trong hậu phẫu hoặc khi sinh. Phong bế vùng (dây thần kinh nhỏ và gây tê tiêm thấm)

Chống chỉ định :

Quá mẫn đối với các thuốc tê tại chỗ thuộc nhóm amid. Không dùng để gây tê vùng theo đường tĩnh mạch (phong bế Bier) cũng như không dùng để gây tê ngoài màng cứng cho những người bệnh bị tụt huyết áp nặng như trong các trường hợp bị sốc do tim hay do mất máu.

Thận trọng lúc dùng :

Thận trọng với người bị bệnh gan. Bupivacain gây độc tim nhiều hơn so với các thuốc tê tại chỗ khác, vì vậy cần thận trọng khi dùng cho người có rối loạn chức năng tim mạch.

Tình trạng máu nhiễm toan hay thiếu oxy có thể làm giảm khả năng dung nạp bupivacain, đồng thời tăng nguy cơ và mức độ trầm trọng của các phản ứng gây độc của thuốc. Epinephrin trong chế phẩm bupivacain có thể gây những phản ứng không mong muốn ở người bệnh tim mạch nặng, tăng huyết áp, thiểu năng hoặc cường giáp trạng, hoặc giảm kali huyết không được điều trị.

Các thuốc mê đường hô hấp gây tăng độ nhạy cảm của tim đối với các catecholamin, do đó làm tăng nguy cơ loạn nhịp nếu dùng thuốc có kèm epinephrin.

Tương tác thuốc :

Tránh dùng bupivacain chứa epinephrin cùng với các thuốc ức chế IMAO hay thuốc chống trầm cảm ba vòng vì có thể gây tăng huyết áp nặng và kéo dài. Dùng kết hợp với các thuốc co mạch và thúc đẻ nhóm cựa loạ mạch có thể gây tăng huyết áp nặng và kéo dài, đồng thời gây tai biến mạch máu não.

Các phenothiazin và butyrophenon có thể gây giảm hoặc đảo ngược tác dụng của epinephrin. Bupivacain tương tác với các thuốc chống loạn nhịp nhóm I như tocainid, làm tăng thêm độc tính.

Nên thận trọng khi dùng bupivacain ở người đang dùng thuốc chống loạn nhịp có tác dụng gây tê tại chỗ (như lidocain) vì có thể gây tăng độc tính. Có thể có hiện tượng loạn nhịp tim nặng nếu dùng bupivacain chứa các thuốc co mạch ở người đang hoặc đã dùng cloroform, halothan, cyclopropan, triclorethylen.

Tác dụng phụ

Hệ thần kinh trung ương: kích thích hoặc ức chế biểu hiện: choáng váng, buồn nôn, sợ hãi, thờ ơ, lú lẫn, chóng mặt, ngủ gà, ù tai, hoa mát, nôn mửa, cảm giác nóng, lạnh hoặc tê, co rút, run, co giật, mất chi giác, ức chế hô hấp và/hoặc ngừng hô hấp, kích động, nói khó, nói lắp. Trước tiên là lơ mơ, mất tri giác, ngừng hô hấp. (Cần có thiết bị hồi sức, kể cả oxy, thuốc chống co giật để cấp cứu).

Hệ tim mạch: ức chế làm tim chậm, hạ huyết áp, truy tim mạch dẫn đến ngừng tim (nên đặt canuyn tĩnh mạch trước khi tiêm thuốc tê).

Huyết động học: Gây tê vùng có thể dẫn đến hạ huyết áp ở người mẹ.

Dị ứng: tổn thương da, mày đay, phù nề, phản ứng phản vệ (có Na metabisulfit).

Xử trí bằng các biện pháp thường quy.

Dị ứng: tổn thương da, mày đay, phù nề, phản ứng phản vệ (có Na metabisulfit). Xử trí bằng các biện pháp thường quy.

Thần kinh: Phụ thuộc vào liều dùng, loại thuốc, đường sử dụng và tình trạng người bệnh. Khi phong bề ngoài màng cứng đoạn thắt lưng hoặc chùm đuôi ngựa, đặt nhầm catheter vào khoang dưới màng nhện đôi khi xảy ra.

Phụ thuộc một phần vào lượng thuốc được tiêm vào dưới màng cứng. Các tác dụng ngoại ý này có thể bao gồm phong bế tủy sống ở mức khác nhau (kể cả phong bế hoàn toàn tủy sống), hạ huyết áp thứ phát do phong bế tủy sống, mất kiểm soát bàng quang–ruột, mất cảm giác tầng sinh môn và khả năng sinh dục. Rối loạn vận động kéo dài, cảm giác và/hoặc thần kinh tự chủ (kiểm soát cơ vòng) của một số đoạn tủy sống thấp với khả năng hồi phục chậm hoặc không hoàn toàn.

Đau lưng và nhức đầu cũng được lưu ý sau gây tê. Các tác động do quá liều và tiêm nhầm vào mạch máu ảnh hưởng đến thần kinh trung ương và/hoặc hệ tim mạch. Tiêm nhầm liều cao vào khoang dưới màng nhện có thể ức chế thần kinh trung ương, ngừng hô hấp, và trụy tim mạch.

Liều lượng

Cách dùng: Tùy thuộc vào loại thuốc, liều dùng thay đổi tùy thuộc vào vùng gây tê tình trạng mạch máu ở mô, số đoạn thần kinh cần phong bế, mức độ gây tê giãn cơ cần thiết, khả năng dung nạp từng người, kỹ thuật gây tê và tình trạng người bệnh.

Liều 400mg/24giờ được dung nạp tốt ở người lớn (kể cả có adrenalin) cân nặng trung bình 70kg, khỏe mạnh, trưởng thành.

Lưu ý rằng liều thuốc ở bất kỳ thời điểm nào không được vượt quá 2mg/kg thể trọng. Liều dùng trên chỉ dùng tham khảo. Liều sử dụng cho trẻ em dưới 10 tuổi còn giới hạn. Với người cao tuổi cần giảm liều.

Qúa liều : Co giật toàn thân được xử trí bằng oxy và hô hấp hỗ trợ. Tăng cường thông khí có thể làm giảm mạnh độc tính. Có thể dùng suxamethonium nhưng chỉ có các thầy thuốc gây mê mới được quyền chỉ định. Suy tuần hoàn được xử trí bằng cho thở oxy, đặt đầu thấp, cho thuốc cường giao cảm, truyền dịch. Trường hợp vô tâm thu hoặc rung thất, cần phải được hồi sức tích cực, kéo dài.

Bảo quản:

Thuốc độc bảng B.

Bảo quản các dung dịch chế phẩm ở 15-30 độ C. Chỉ dùng một lần sau khi mở ống thuốc.

Các dung dịch chứa epinephrin cần bảo quản tránh ánh sáng. Không dùng nếu dung dịch có màu hồng nhạt hoặc xẫm hơn hoặc có tủa.