Tác dụng của cây THẠCH VỸ đối với sức khỏe

Thạch vỹ còn gọi là Thạch bì, Thạch lan, Phi đao kiếm, Kim tinh thảo là một loại Dương xỉ nhỏ có thân rễ nằm ngang, có tên thực vật như Pyrrosia sheareri (bak) Ching, Pyrrosia petiolosa (Christ) Ching hoặc Pyrrosia Lingua (Thunb) Farw thuộc họ Dương xỉ (Polypodiaceae). Lá dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh.

Cây thạch vĩ dây còn có tên là, dương vong,... Đông y gọi là “hải kim sa” vì lá lóng lánh như những hạt cát vàng (kim sa). Là loại cây leo, thân rễ bò, lá dài, có nhiều cặp lá chét, mỗi lá chét có nhiều lá chét con mang ổ tử nang ở mép. Bao tử hình 4 mặt trắng xám hơi vàng. Vòng đầy đủ nằm ngang gần đỉnh bảo tử nang.
Cây thạch vĩ dây còn có tên là, dương vong,… Đông y gọi là “hải kim sa” vì lá lóng lánh như những hạt cát vàng (kim sa). Là loại cây leo, thân rễ bò, lá dài, có nhiều cặp lá chét, mỗi lá chét có nhiều lá chét con mang ổ tử nang ở mép. Bao tử hình 4 mặt trắng xám hơi vàng. Vòng đầy đủ nằm ngang gần đỉnh bảo tử nang.

Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta, thường bám vào đá, tường hoặc thân cây to. Quanh năm đều có thể hái về bỏ thân rễ và rễ con, lá thái nhỏ làm thuốc khô hoặc tươi.

Tính vị qui kinh:

Vị đắng ngọt, tính hơi hàn, qui kinh Phế, Bàng quang.

Theo các sách thuốc cổ:

  • Sách Bản kinh; vị đắng, tính bình.
  • Sách Lôi công bào chế dược tính giải: nhập 2 kinh Phế Bàng quang.

Thành phần chủ yếu:

Trong lá loại Thạch vỹ Pyrrosiae Linguae có: diploptene, beta-sitosterol, saponin, tannin, anthroquinone.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Thạch vỹ có tác dụng lợi thủy thông lâm, hóa đàm chỉ khái, cầm máu. Chủ trị các chứng lâm, phù thũng, ho, băng lậu, thổ huyết, nục huyết.

Trích đoạn Y văn cổ:

  • Sách Bản kinh: ” chủ lao nhiệt tà khí, ngũ lung bế bất thông, lợi tiểu tiện thủy đạo”.
  • Sách Trấn nam bản thảo: ” chỉ ngọc hành thống”.
  • Sách Bản thảo cương mục: ” chủ băng lậu, kim sang, thanh phế khí”.
  • Sách Bản kinh phùng nguyên: ” Thạch vỹ tính hàn lợi nên sách Bản kinh nói trị lao nhiệt tà khí là chỉ lao lực làm tổn thương tân dịch, nhiệt do chứng lung bế không thông sinh ra chứ không phải hư lao. Trị phụ nữ có thai chuyển dạ, sắc với Sa tiền uống”.

B. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng cầm ho long đờm và có tác dụng kháng khuẩn phần nào. Chiết xuất cồn ête của thuốc hòa trong nước với nồng độ 55 làm giun đất chết sau 45 phút.

Trường Đại học Y khoa Hà nội (1960) thử tác dụng của thuốc trên nhiều loại ký sinh trùng, thấy có tác dụng rõ đối với sán lá ruột (Fasciolopsis buski), ký sinh trùng chết sau khi cho uống thuốc 15 phút.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị viêm đường tiểu: thuốc có tác dụng lợi tiểu thông lâm.

  • Thạch vỹ , Xa tiền tử đều 15g sắc uống trị viêm niệu đạo, viêm bàng quang cấp.
  • Thạch vỹ 10g, Bồ hoàng 5g, Phi Hoạt thạch 8g, Mộc thông 4g, Xa tiền thảo 8g, nước 600ml sắc còn 200ml uống.
  • Thạch vỹ, Sinh Bồ hoàng, Đương qui, Xích thược đều 10g sắc uống trị tiểu gắt, tiểu đỏ.

2.Trị chứng thổ huyết, băng huyết:

  • Thạch vỹ tươi 40g, Địa du than, Tông lữ than đều 20g sắc uống trị phế nhiệt thổ huyết.
  • Thạch vỹ, Trắc bá diệp, Chi tử, Đơn sâm, Kim anh tử đều 10g, Ích mẫu thảo 15g, cọng lá sen 3 cái, Hoa Mồng gà 6g, sắc uống. Trị huyết nhiệt băng lậu.

3.Trị viêm phế quản mạn tính:

  • Thạch vỹ, Binh lang lượng bằng nhau tán bột mịn trộn đều, mỗi lần 5 – 8g uống với nước gừng.
  • Thạch vỹ 5 – 10g độc vị hoặc dùng trong bài thuốc trị viêm phế quản mạn tính đều có kết quả nhất định, thường dùng trong 1 – 2 ngày, đàm giảm rõ rệt (Tư liệu nghiên cứu phòng trị viêm phế quản mạn tính tập 2, do nhà xuất bản Nhân dân Thượng hải xuất bản, 1973).

Liều thường dùng:

  • Liều 5 – 10g, dùng độc vị lượng có thể gấp đôi.

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm

Chữa chứng tiểu tiện khó khăn, nước tiểu đỏ do nhiệt: Thạch vĩ dây 24g cho 400ml nước,  đun sôi khoảng 15 phút, có thể thêm chút đường, uống thay trà trong ngày.  Có thể thay thế bằng các vị thuốc sau: thạch vĩ dây 100g, mang tiêu 100g, hổ phách 40g, bằng sa 20g. Tất cả tán thành bột,  uống ngày 5 – 8g, chia  3 lần, chiêu với nước ấm.

Sản phụ ít sữa: Thạch vĩ dây 12 – 24g, rửa sạch, đổ 400ml nước, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Chữa bỏng lửa (bỏng nhẹ, vết thương hẹp): Thạch vĩ dây 25g, đốt tồn tính, nghiền thành bột mịn, trộn với ít dầu vừng, rửa sạch vết thương bôi vào chỗ bị bỏng.

Chữa ăn uống khó tiêu, bụng trướng đầy do thấp trệ (tỳ thấp trướng mãn): Thạch vĩ dây 20g, bạch truật 8g, cam thảo 2g. Đổ 500ml nước  sắc còn 150ml, chia 2 lần uống trong ngày. Uống sau ăn 15 phút. Uống 5 – 10 ngày.

Hỗ trợ chữa sỏi niệu đạo: Thạch vĩ dây 30g, biển súc 15g, mã đề 30g. Tất cả cho vào ấm đổ 500ml nước, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 1 tuần.  Nếu tiểu tiện khó đau rát: thạch vĩ dây 30g, hoạt thạch 30g, ngọn cành cam thảo 10g tán thành bột, mỗi lần uống 6g với nước sắc mạch môn, ngày 2 – 3 lần.

Lưu  ý: Người tì vị hư hàn không dùng thạch vĩ dây.

Sức khỏe và đời sống

Tác dụng của Cao bạch quả

Bạch quả (Gingko) là loại thuốc quý, được trồng ở trung quốc cách đây 3000 năm. Bạch quả là loại thảo dược có rất nhiều tác dụng có lợi cho sức khỏe con người nhưng cũng không phải không có tác dụng ngược. 

Vì sao có tên là bạch quả: Tên gọi cũ trong tiếng Trung để chỉ loài cây này là ngân quả. Tên gọi thông dụng ngày nay là bạch quả và ngân hạnh. Tên gọi đầu tiên trong số tên mới này được vay mượn trực tiếp sang tiếng Việt (bạch quả).

Tên gọi khoa học Ginkgo dường như là do sự phát âm na ná của từ này trong Hán tự là ginkyō. Engelbert Kaempfer, người phương Tây đầu tiên nhìn thấy loài này năm 1690, đã ghi lại cách phát âm sai là ginkgo trong cuốn Amoenitates Exoticae của ông; trong đó chữ y do ông viết đã bị đọc sai thành g, và lỗi chính tả này đã được giữ nguyên tới nay.

Bạch quả đã được trồng ở Trung Quốc từ cách đây 3.000 năm, có nguồn gốc ở tỉnh Triết Giang. Từ năm 1995, Việt Nam đã nhập hạt bạch quả từ Nhật Bản và Pháp về trồng ở Sapa (Lào Cai), nhưng cây sinh trưởng rất chậm. Bộ phận được dùng làm thuốc là lá phơi hay sấy khô.

Bạch quả là cây to, cao 20-30m, tán lá sum suê. Thân hình trụ, phân cành nhiều, gần như mọc vòng. Lá mọc so le, thường tụ ở một mấu, hình quạt, gốc thuôn nhọn, đầu hình cung, lõm giữa chia phiến thành hai thùy rộng, hai mặt nhẵn. Gân lá rất sít nhau, tỏa từ gốc lá thành hình quạt, cuống lá dài hơn phiến. Hoa đơn tính khác gốc; hoa đực và hoa cái đều mọc ở kẽ lá, có cuống dài. Quả hạch hình trứng, thịt màu vàng.

cây bạch quả ngàn năm tuổi khi đến mùa thay lá tại chùa Quan Âm tại tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc Hình ảnh: Phật tử Việt Nam
cây Bạch quả ngàn năm tuổi khi đến mùa thay lá tại chùa Quan Âm tại tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc Hình ảnh: Phật tử Việt Nam

Thành phần dinh dưỡng của quả bạch quả

Bạch quả hay còn gọi là quả ngân hạnh tiếng Anh gọi là Ginkgo hay , chứa 5,3% protein, 1,5% chất béo, 68% tinh bột, 1,57% tro, 6% đường. Theo Đông y, bạch quả có vị ngọt, hơi đắng, tính bình, vào kinh phế và mạch đới, có tác dụng liễm phế, tiêu đờm, thường được dùng trong các chứng ho lâu ngày, ho đàm, đi tiểu lắt nhắt…

quả của cấy bạch quả
quả của cấy bạch quả

Tác dụng của Cao bạch quả

Tác dụng trên thiểu năng tuần hoàn não và bệnh tuần hoàn ngoại biên

Cao bạch quả qua thực nghiệm cho thấy có tác dụng bảo vệ chuột cống trắng chống lại bệnh thiếu máu cục bộ não. Tiêm truyền tĩnh mạch cao bạch quả giúp ngăn cản sự phát triển nhồi máu não (khi tiêm mảnh vỡ cục đông máu của nó vào động mạch cảnh gốc). Ngoài ra còn có tác dụng tốt trên nhồi máu não cấp tính hoặc thiếu máu cục bộ não do nghẽn mạch. Trong điều kiện giảm lượng oxy từ không khí thở vào, động vật điều trị với cao bạch quả sẽ sống sót lâu hơn so với nhóm đối chứng, không những do tác dụng tăng lưu lượng tuần hoàn não, mà còn do làm tăng nồng độ glucose và adenosin triphosphat trong máu.

Cao bạch quả tiêm truyền tĩnh mạch còn làm tăng đường kính tiểu động mạch ở mèo, làm giảm sử dụng glucose bởi não. Nó có hiệu quả điều trị phù não gây ra bởi các chất độc hại thần kinh hoặc do chấn thương. Trong nhồi máu não gây ra bởi natri arachidonat ở chuột cống trắng, cao bạch quả dạng uống hoặc tiêm dưới da có tác dụng ức chế một phần sự tăng nước, natri và calci, đồng thời ức chế tình trạng giảm kali trong não. Cho chuột nhắt trắng uống cao bạch quả trong 4-8 tuần giúp tăng trí nhớ và nhận thức trong thí nghiệm phản xạ có điều kiện.

Tác dụng trên tiền đình và thính giác

Cao bạch quả làm giảm thương tổn ốc tai ở chuột lang và có tác dụng tốt trên độ thấm mao mạch và vi tuần hoàn chung. Cải thiện chức năng về tiền đình và thính giác trên động vật gây thương tổn thực nghiệm.

Tác dụng đối kháng với yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (PAF)

Các hợp chất ginkgolid của cao bạch quả, đặc biệt ginkgolid B là chất đối kháng của PAF. Ginkgolid B có tác dụng ức chế mạnh sự giảm lượng tiểu cầu và co thắt phế quản gây bởi PAF ở chuột lang.

Công dụng điều trị:

Não suy

Là tập hợp các triệu chứng của tình trạng sa sút trí tuệ. Trong sa sút trí tuệ thoái hóa, có sự mất tế bào thần kinh và suy giảm dẫn truyền thần kinh, tình trạng giảm chức năng trí tuệ kết hợp với rối loạn về cung cấp oxy và glucose. Trên lâm sàng, bạch quả có tác dụng điều trị não suy, gồm suy giảm sự tập trung và trí nhớ, lú lẫn, mất nghị lực, mệt mỏi, giảm vận động thể lực, tâm trạng trầm cảm, lo âu, chóng mặt, ù tai và nhức đầu. Bạch quả có nhiều cơ chế tác dụng như tác dụng điều hòa trên mạch máu, làm tăng lưu lượng máu, tác dụng về lưu biến máu, làm giảm độ nhớt của máu, tăng dung nạp đối với sự thiếu oxy ở mô, cải thiện rối loạn dẫn truyền thần kinh và dự phòng sự thương tổn màng do gốc tự do.

Ở người, cao bạch quả làm tăng lưu lượng máu não toàn bộ, cục bộ và vi tuần hoàn, bảo vệ đối với tình trạng giảm oxy trong không khí thở vào, cải thiện lưu biến máu, ức chế kết tập tiểu cầu, cải thiện chuyển hóa ở mô và giảm độ thấm mao mạch. Cao bạch quả tiêu chuẩn hóa với liều 120mg có tác dụng giống như dihydroergotoxin với liều 4,5mg sau 6 tuần điều trị.

Bệnh tắc động mạch ngoại biên

Cao bạch quả có tác dụng điều trị bệnh tập tễnh cách hồi do tắc động mạch ngoại biên (dùng 120-160mg/ngày trong 24 tuần), làm tăng khoảng cách đi được và giảm đau (200mg/ngày trong 8 tuần). Có tác dụng điều trị bệnh tắc động mạch ngoại biên.

– Chóng mặt và ù tai

Cao bạch quả được dùng điều trị những rối loạn ở tai trong như điếc, chóng mặt và ù tai (dùng 120-160mg/ngày trong 4-12 tuần). Kết quả điều trị tốt đối với hội chứng chóng mặt mới mắc phải và không rõ rệt với triệu chứng ù tai và điếc.

– Dạng thuốc dùng

Cao tiêu chuẩn hóa (cao khô từ lá khô bạch quả, chiết xuất bằng aceton và nước với tỷ lệ dược liệu/cao là 35-67/1), chứa 22-27% flavon glycosid và 5-7% terpen lacton, trong đó khoảng 2,8-3,4% là các ginkgolid A, B, C và 2,6-3,2% là bilobalid.

Công dụng:

Cao bạch quả tiêu chuẩn hóa được dùng trong y học hiện đại để điều trị triệu chứng trong thiểu năng tuần hoàn não nhẹ và vừa (hội chứng sa sút trí tuệ trong sa sút trí tuệ) thoái hóa tiên phát, sa sút trí tuệ do tuần hoàn và kết hợp hai dạng với những triệu chứng: Suy giảm trí nhớ, rối loạn tập trung, tâm trạng trầm cảm, chóng mặt, ù tai và nhức đầu. Còn được dùng để làm tăng quãng đường đi không đau ở người có tắc động mạch ngoại biên, như tập tễnh cách hồi, bệnh Raynaud, xanh tím đầu chi và hội chứng sau viêm tĩnh mạch. Ðiều trị bệnh ở tai trong như ù tai và chóng mặt do nguyên nhân mạch máu hoặc thoái hóa.

Liều dùng: Cao khô, ngày dùng 120-240mg, chia 2-3 lần; 40mg cao tương đương 1,4-2,7g lá. Cao lỏng (1:1), mỗi lần 0,5ml, ngày dùng 3 lần.

Hạt bạch quả rất được coi trọng trong y học cổ truyền các nước châu Á và là một trong các thực phẩm truyền thống của người Trung Quốc. Loại hạt này được sử dụng trong món cháo, và thường được làm trong các dịp đặc biệt như lễ cưới hay Tết Nguyên Đán. Trong văn hóa và y học cổ truyền Trung Quốc, người ta tin rằng bạch quả có các tác dụng tốt với sức khỏe; đặc biệt là tác dụng kích thích tình dục. Trong ẩm thực Nhật Bản, người ta thêm hạt bạch quả (gọi là ginnan) vào các món ăn như chawanmushi và hạt đã chế biến thường được ăn cùng các món khác. Hạt bạch quả cũng có sẵn ở dạng đóng hộp, được bán dưới tên gọi “White Nuts”, có thể thấy ở nhiều cửa hàng thực phẩm châu Á tại phương Tây.

Tác hại khôn lường quả bạch quả
Không tốt người dùng thuốc chống đông Cho dù có nhiều lợi ích cho sức khỏe, tuy nhiên người sử dụng phải lưu ý là bạch quả vẫn có thể gây ra một số tác dụng phụ:
Những người bị rối loạn tuần hoàn máu và những người đang sử dụng thuốc chống đông (ví dụ như Aspirin). Bạch quả cũng có thể gây tác động bất lợi lên bộ máy tiêu hóa cũng như gây những cơn đau đầu.
Cũng không nên dùng bạch quả nếu đang sử dụng những loại thuốc kháng trầm cảm vì sẽ gây nên sự tương tác thuốc nguy hiểm.
Phụ nữ có thai không nên dùng
Bạch quả làm tăng khả năng xuất huyết, vì vậy những bệnh nhân có vấn đề về đông máu, máu khó đông… thì không nên dùng. Phụ nữ có thai cũng được khuyến cáo không nên sử dụng.
Trẻ con ăn dễ ngộ độc
 Hạt của bạch quả có chứa phenol, chất không có lợi cho trẻ em, kích thích dây thần kinh, niêm mạc đường tiêu hóa và dễ gây các bệnh về da. Cho trẻ ăn quá nhiều hạt quả này , sau 2-6 giờ sẽ xuất hiện triệu chứng đau bụng, tiêu chảy, nặng hơn nữa là ngộ độc
Ngoài ra, bạch quả, có thành phần độc tố là ammonocarbonous acid) còn có tên hychocyanic acid, formonitrile). Nó có thể dễ dàng kết hợp với cytochrome oxidase  của  cơ thể, làm cho hợp chất của tế bào này mất hết hoạt tính, khiến tế bào không thể tiếp nhận oxy . Với người lớn  thì khả năng chịu đựng tương đối cao; nhưng với trẻ nhỏ thì chỉ có thể chịu đựng được lượng rất nhỏ loại độc tố này, một lần mà ăn tới 30 hạt là dễ trúng độc.
Không nên ăn sống
Bạch quả mà ăn sống mức độ ngộ độc nguy hiểm càng cao. Thông thường thì sau khi ăn chừng một đến vài tiếng đồng hồ là có triệu chứng trúng độc, thoạt đầu là lợm giọng, rồi nôn ói, đau bụng, tiêu chảy, tiếp đến là hoa mắt, váng đầu, bứt rứt khó chịu, co giật, hôn mê, nghiêm trọng có thể tử vong.
Các chuyên gia khuyến cáo khi sử dụng bạch quả nếu gặp những tác dụng phụ như nhức đầu, hiếu động bất thường, tiêu chảy, ói mửa, buồn nôn thì cần phải đến các cơ sở y tế ngày và không nên cho trẻ nhỏ ăn.
Tìm thuốc nhanh tổng hợp

Nói về những tác dụng của Diệp Hạ Châu

Diệp hạ châu cái tên rất quen thuộc đối với người Việt Nam chúng ta- một số nơi gọi là cây Chó đẻ răng cưa. Diệp Hạ châu có tên khoa học Phyllanthus urinaria L.

Cay-diep-ha-chau
Cay-diep-ha-chau

Diệp hạ châu (Phyllanthus urinaria) là một loài cây thảo mộc nhỏ, còn được biết đến với tên gọi quen thuộc là chó đẻ răng cưa, bởi người ta nhận thấy rằng chó mẹ ngay sau khi sinh con thường tự đi kiếm thảo mộc này để cầm máu và chữa lành vết thương. Cũng chính từ phát hiện lý thú đó, mà rất nhiều nghiên cứu khoa học đã được tiến hành và khám phá hết những lợi ích của Diệp hạ châu cho sức khỏe. Trong đó, phải kể đến tác dụng vượt trội của Diệp hạ châu đối với các bệnh về gan mật, đặc biệt là cho người bệnh sỏi mật. Nó giúp ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của sỏi, đồng thời phòng tránh những biến chứng do sỏi gây ra.

Theo Y học cổ truyền, Diệp hạ châu có vị đắng, tính mát, quy vào kinh can (gan), đởm (mật) nên giúp kích thích tiêu hóa, lợi mật. Nó được sử dụng phổ biến trong các bài thuốc dân gian để chữa các bệnh về gan mật, mụn nhọt, nhiễm trùng…

Tính vị, tác dụng: Chó đẻ răng cưa có vị ngọt hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết, điều kinh, thanh can, sáng mắt, làm se và hạ nhiệt. Người ta cũng đã nhận thấy tác dụng diệt khuẩn và diệt nấm rõ rệt của acid phenolic và flavonoid trong Chó đẻ răng cưa, Coderacin dùng chế thuốc nhỏ mắt và thuốc mỡ tra mắt, nó có khả năng diệt một số vi khuẩn, nấm và mốc, chủ yếu là các mầm gây bệnh đối với mắt.

Tác dụng giải độc: 
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong Diệp hạ châu có chứa nhiều chất đắng là phyllathin và các chất chống oxy hóa mạnh thuộc nhóm xanthones, có khả năng ức chế quá trình stress oxy hóa tế bào gan, nhờ đó giúp bảo vệ và tăng cường chức năng gan, làm giảm nguy cơ viêm gan, xơ gan hoặc hoại tử tế bào gan.

Người Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc dùng Diệp hạ châu để trị các chứng mụn nhọt, lở loét, đinh râu, rắn cắn, giun. Nhân dân Java, Ấn Độ dùng để chữa bệnh lậu. Theo kinh nghiệm dân gian Malaysia, Diệp hạ châu có thể dùng để trị các chứng viêm da, viêm đường tiết niệu, giang mai, viêm âm đạo,… Công trình nghiên cứu tại Viện Dược liệu – Việt Nam (1987 – 2000) cho thấy khi dùng liều 10 – 50g/kg, Diệp hạ châu có tác dụng chống viêm cấp trên chuột thí nghiệm.

Dịch mật do gan sản xuất, chính vì vậy khi chức năng gan bị suy yếu, sẽ làm giảm chất lượng cũng như số lượng dịch mật, làm tăng nguy cơ hình thành sỏi mật. Nguyên lý chữa bệnh của Y học cổ truyền là trị bệnh từ gốc đến ngọn. Ngoài việc chữa triệu chứng thì căn nguyên gây ra bệnh cũng cần được loại bỏ. Vì thế, trong các bài thuốc Đông y chữa trị bệnh sỏi mật, không thể thiếu các thảo dược có khả năng tăng cường chức năng gan như Diệp hạ châu.

Với tác dụng tăng cường chức năng gan, lợi mật, Diệp hạ châu giúp ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của sỏi mật hiệu quả.

Nguồn: Cây Thuốc Việt Nam

Một số loại cây giúp hạ sốt cho trẻ em

Sốt ở người nói chung và trẻ ^con nói riêng là một triệu chứng chứ không phải là bệnh, vì nó là phản ứng bình thường của cơ thể trước một tác nhân gây bệnh nào đó. Sốt giúp chống lại sự nhiễm trùng bằng cách khởi động hệ miễn dịch của cơ thể.

Các nguyên nhân gây sốt ở trẻ em thường từ các bệnh do virus như cảm lạnh hoặc cảm cúm. Một vài nguyên nhân là do bệnh từ vi khuẩn mang lại như nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng đường tiêu hóa hoặc đường tiểu. Mọc răng đa sô’ không phải là nguyên nhân gây sốt ở trẻ em.

Hầu hết các cơn sốt do virus sẽ kéo dài khoảng 3-5 ngày, không bao giờ quá 7 ngày, nếu sốt trên 7 ngày là có nhiễm khuẩn kèm theo nên phải dùng kháng sinh phôi hợp để điều trị. Không phải cứ sốt cao là bệnh nặng mà hành vi phản ứng của trẻ mới nói lên trẻ bệnh nặng hay nhẹ. Sự co giật và tổn thương não thường chỉ xuất hiện khi nhiệt độ cơ thể cao hơn 42°c. Thông thường, thuốc hạ sốt đầu tay được sử dụng là paracetamol dưới dạng bào chế bột hòa tan, viên sủi bọt, cốm, siro hoặc viên nén, viên nhộng, đơn chất hoặc kết hợp để thích hợp với từng độ tuổi, từng loại bệnh. Thuốc bắt đầu có tác dụng sau uống khoảng 15 — 30 phút, và kéo dài khoảng 4 — 6 giờ sau khi uông thuốc. Thuốc sẽ giúp giảm nhiệt độ cơ thể trẻ xuống từ 1 — 2°c, thuốc hạ sốt cũng không gây hạ thân nhiệt quá mức ở trẻ.

Tuy nhiên không phải cứ sốt là lúc nào cũng phải dùng đến thuốc hạ sốt, chỉ nên dùng đến thuốc hạ sốt khi trẻ sốt hơn 38,5°c. Ngoài ra có những trường hợp trẻ đã uông đủ liều thuốc hạ sốt nhưng nhiệt độ cơ thể vẫn hạ rất ít hoặc không hạ. Trong những trường hợp đó, tuyệt đôi không tự ý tăng thêm liều thuốc hạ sốt cho trẻ vì có thể sẽ gây biến chứng viêm gan cấp hoặc suy gan cho trẻ. Nên nhờ đến sự tư vấn của nhân viên y tế hoặc sử dụng thêm các phương pháp hạ sốt khác ngoài thuốc Tây. Dưới đây là một số loại thảo dược có thể giúp hỗ trợ việc hạ sốt cho trẻ trong trường hợp chưa cần đến thuốc hạ sốt hoặc không thể tăng liều thuốc hạ sốt:

  • Quả chanh: chanh có khả năng giúp hạ sốt nhanh, vỏ và lá chanh chứa nhiều tinh dầu, được dùng để trị ho, cảm cúm, hạ sốt, chông viêm; nước cốt chanh chứa nhiều vitamin Bl, B2, vitamin c, acid citric giúp giải nhiệt, lợi tiểu, kháng viêm, giảm ho và khan tiếng.

Cách làm: lấy quả chanh để nguyên cả vỏ, cắt làm nhiều lát mỏng sau đó cầm lấy từng lát chanh chà nhẹ nhàng lên giữa trán, ở khủy tay, khủy chân và dọc sông lưng của trẻ.

Lưu ý: Không chà chanh vào các vùng da trầy xước hay đang nổi ban, nổi sẩy. Chà chanh lên da trẻ có thể gây xót một tí nhưng không sao cả cứ chà nhẹ nhàng mỗi nơi khoảng 1 phút rồi để yên đó chừng 4-5 phút mới lau sạch lại bằng khăn ướt đã vắt.

  • Chanh và lá tía tô: mỗi thứ một nắm to, rửa sạch rồi giã nát, sau đó đổ vào một ít nước ấm rồi đảo đều. Vét tất cả lá đã giã nát vào một tấm khăn sạch, túm lại, vắt lấy nước cốt cho uống. Phần bã còn lại thì xoa vào người từ đầu, mặt xuống tới ngực, lưng, bụng, tay chân. Xoa tới đâu cảm giác mát trở lại tới đó, chỉ sau khoảng 10 phút cơn sốt có thể giảm hẳn. Bài thuốc này rất hiệu quả để cắt những cơn sốt cao 39,5 – 40°c.

 

chanh-va-la-tia-to
chanh-va-la-tia-to
  • Rau húng quế, húng quê ngoài tác dụng trị sổ mũi cho trẻ rất tốt khi kết hợp với tỏi nướng, còn có khả năng giúp hạ sốt khá hiệu quả.

Cách làm: hái lá húng quế chừng 30 lá, với một nhánh nhỏ gừng băm nhuyễn. Sau đó cho cả 2 vào nồi đổ chừng 200ml nước vào đun sôi, vặn lửa vừa đun còn lại phân nửa. Sau đó rót vào ly và cho thêm 1 — 2 thìa mật ong vào, cho trẻ uống làm 3 lần trong ngày, mỗi lần cách nhau 4 tiếng, uống hết trong ngày không để lại hôm sau. Nếu không dùng húng quế, có thể thay thế hoàn toàn bằng lá cây Sài đất, lá cây Bồ công anh, hoặc lá rau Sam, cách làm hoàn toàn tương tự.

  • Cỏ nhọ nồi (còn gọi là cỏ mực): có thể tìm hái cây nhọ nồi mọc trong vườn nhà hoặc ở các vùng nhiều đất ruộng.

Cách làm: hái một nắm nhỏ cỏ nhọ nồi lấy phần thân cây và lá, bỏ phần hoa với rễ, rửa sạch rồi ngâm nước muối pha loãng chừng 15 — 20 phút. Sau đó giã thật nát, cho vài thìa nước đun sôi vào dùng khăn lọc kỹ lấy nước cốt cho bé uống, có thể cho thêm ít chút đường hoặc mật ong cho dễ uống. Giã một lần có thể chia làm 2 lần cho uống, lần cho uống chừng 20 – 30ml tùy theo trẻ uống được đậm hay nhạt mà pha loãng hay đặc. Uổng 2-3 lần trong ngày đều được. Còn với bã nhọ nồi thì cho vào khăn sạch dấp lên trán cũng giúp hạ sốt. Trẻ không uống được thì lấy một nắm tươi rửa sạch, giã nát lấy cả xác và nước cho vào khăn rồi đắp lên trán, và dùng một nửa để chà nhẹ nhàng lên các chỗ như nách, bẹn để hạ sốt.

  • Rau diếp cá và rau má : dùng một nắm to mỗi thứ lá, rửa sạch, giã nát nhuyễn, đổ vào một bát nước. Tất cả đem đun sôi nhỏ lửa khoảng 15 phút, sau đó chắt lấy nước để nguội dùng cho trẻ uống dần, lượng tùy thích. Để tăng hiệu quả chữa sốt có thể dùng bã rau diếp cá và rau má sông giã nát đắp vào trán, cho vào bao rồi kẹp vào nách trẻ.
  • Tắm gừng:Trước đây, người ta thường kiêng kị việc tắm cho trẻ mỗi khi bị sôt. Ngày nay, nhiều nghiên cứu đã chứng minh, tắm chính là cách hạ nhiệt cơ thể rất nhanh nếu trẻ được tắm cho đúng cách. Việc hạ nhiệt cho bé khi sốt là cực kỳ quan trọng vì não trẻ còn yếu nếu đế xảy ra co giật sẽ rất dễ bị tổn thương. Tắm là cách chủ yếu để hạ nhiệt cho não. Gừng có tác dụng giữ ấm cơ thể, nhưng không phải vì vậy mà trẻ đang sốt khi tắm gừng sẽ bị sốt cao hơn. Tắm gừng sẽ giúp cơ thể xuất mồ hôi ra nhanh hơn và làm giảm thân nhiệt.

Cách làm: Giã một củ gừng to cho thật nát, cho vào một bát nước sôi, để chừng 15 phút, sau đó pha cả gừng và nước gừng vào chậu nước khoảng 30 — 35°c để tắm cho bé. Chọn chậu tắm sâu lòng một chút, thả bé nằm ngửa ngập ngực thường. Việc tắm gừng cho trẻ đang bệnh cảm – ho – sổ mũi là cực kỳ quan trọng, sẽ giúp bé mau hết bệnh hơn hẳn.

Các lưu ý quan trọng

Các cách nêu trên tốt nhất chỉ áp dụng cho trẻ trên 12 tháng tuổi. Với trẻ dưới 6 tháng, nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt khi sốt từ 38,5°c trở lên để an toàn. Dưới 38,5°c chỉ cần lau người bằng khăn ấm cho trẻ là được. Sau khi áp dụng các hình thức hạ sốt kể trên từ 15 — 20 phút cần đo lại nhiệt độ cho trẻ, nếu trẻ vẫn sốt từ 38,5°c trở lên lúc ấy cần cho con uống ngay thuốc hạ sốt. Trẻ có tiền sử co giật thì sốt trên 38°c là cần uống luôn thuốc hạ sốt chứ không nên cố áp dụng hạ sốt cho con bằng các cách dân gian.

Trích THUỐC & SỨC KHỎE

Nghiên cứu mới tác dụng của cây chùm ngây

Cây chùm ngây được xem là một trong những loài cây hữu dụng bấc nhất thế giới, do toàn bộ các phần trên cây này đều có thể được dung làm thức ăn hoặc phục vụi cho các mục đích khác nhau. Do vậy, chùm ngây đang được khuyến khích trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước nghèo.

Hình ảnh cây chùm ngây
Hình ảnh cây chùm ngây

Cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) được biết đến và sử dụng từ hàng ngàn năm ở các nước có nền văn minh cổ như Hy Lạp, Ý, Ấn Độ. Cây chùm ngày là nguồn thức ăn tốt cho trẻ sơ sinh và bà mẹ vừa mới sinh con. Vì thành phần dinh dưỡng trong chùm ngày có chứa một hỗn hợp gồm nhiều hợp chất quý hiếm như. zeatin, quercetin, alpha-sitosterol, caffeoquuinic acid và kaempferol.

Một số nguồn nghiên cứu cho biết chùm ngây chứa hơn 90 chất dinh dưỡng tổng hợp bao gồm 7 loại vitamin, 6 loại khoáng chất, 18 loại axít amin, 46 chất chống oxy hóa, liều lượng lớn các chất chống viêm nhiễm, các chất kháng sinh, khảng độc tố, các chất giúp ngăn ngừa và điều trị ung thư, u xơ tiền liệt tuyến, giúp ổn định huyết áp, hạ cholesterol, bảo vệ gan.

Lá chùm ngày còn chứa nhiều dưỡng chất hơn cả quả và hoa, tỉnh theo trọng lượng, trong đó vitamin C hơn cam 7 lần, vitamin A hơn cà rốt 2 lần, canxi gấp 141ân sữa, sắt gấp 9 lần rau chân vịt, đạm nhiều gấp đôi sữa chua và kali gấp 4 làn trái chuối.

Thành phần dinh dưỡng của chùm ngây
Thành phần dinh dưỡng của chùm ngây

Sau đây là một số tác dụng của chùm ngày đã qua các nghiên cứu lâm sàng:

Tăng tiết sữa:

Một thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi, nhóm đối chứng giả được, dùng chùm ngày để tăng lượng sữa trên phụ nữ sinh non không cho con bú. Thử nghiệm được tiến hành trong 7 ngày với 48 bà mẹ trong độ tuổi từ 18 – 44. Kết quả, sau khi cho uống chùm ngày (250 mg dịch chiết là X 2 lần/ ngày) đến ngày thứ 3 có sự gia tăng đáng kể lượng sữa (265 % so với giả được).

Cải thiện tình trạng hen suyễn:

Một nghiên cứu sơ bộ được tiến hành trên 20 bệnh nhân hen phế quản, trong độ tuổi từ 18 – 44, thuộc cả 2 giới, với liều mỗi ngày là 6g dịch chiết hạt chùm ngây <3g x ² lần/ngày) trong 3 tuần liên tục; cho thấy sự cải thiện đángkể chức năng phổi và giảm hơn một nữa các triệu hen suyên. Không có nhóm dùng giả dược.

Làm ấm da, giảm nếp nhân:

Một thử nghiệm trên các tình nguyện viên khỏe mạnh không có bệnh lý về da, thoa kem chiết xuất từ là chum ngày 3% (thoa 2 lần mỗi ngày) trong 3 tháng mùa đông. Kết quả, làm gia tang sự hydrat hóa giúp da không bị mất nước, cảng và ít xuất hiện nếp nhăn.

Ngoài ra, còn có hàng loạt các nghiên cứu mới tuy chỉ ở mức trong ống nghiệm và trên mô hình động vật nhưng có kết quả vô cùng khả quan như.

Chống mất trí nhớ trên mô hình chuột bị bệnh Alzheimer. Giảm lo âu, chống stress.

Giảm kích thước vùng nhồi máu cơ tìm trong vòng 7 ngày.

Kháng virút viêm gan B, làm giảm tải lượng virút hơn 85% và gây độc tế bào ung thư gan Hep GZ.

Giảm bớt tỉ lệ suy thận trong bệnh đái tháo đường.

Ưc chế sự phát triển và tiêu diệt các tế bào ung thư cổ tử cung, tuyến tụy, đại tràng.

Quan trọng nhất là cây chùm ngày có tính an toàn cao, rất dễ trồng, phát triển nhanh, cho sản lượng lớn, ngay cả ở những nơi khô hạn.

Nguồn sức khỏe & Đời sống số 922

Mô Tả về Cây Lược Vàng

Mô Tả về Cây Lược Vàng

Tên khác: Lan vòi, địa lan vòi, lan rủ, cây bạch tuộc, rai lá phất dủ, giả khóm.

Tên khoa học: Callisia fragrans (Lindl.) Woodson, họ Thài lài (Commelinaceae).

Câu lược vàng
Cây lược vàng

Mô tả: Cây thảo, sống lâu năm. Thân đứng cao từ 15-40 cm, có thân bò ngang trên mặt đất. Thân chia đốt và có nhánh. Đốt ở phía thân dài từ 1-2 cm, ở nhánh có thể dài tới 10 cm. Lá đơn, mọc so le, phiến lá thuôn hình ngọn giáo, 15-20 cm x 4-6 cm, bề mặt nhẵn, mặt trên xanh đậm hơn mặt dưới, mọng nước. Bẹ lá ôm khít lấy thân. M  p lá nguyên, thường có mầu vàng khi lá già. Gân lá song song. Lá thường có mầu tím ở những cây có nhiều ánh sáng. Hoa hợp thành xim, sắp xếp ở ngọn một trục dài và cong thành chùm. Cụm hoa không cuống, gồm 6-12 bông. Hoa mầu trắng, có cuống, cuống hoa dài 1 mm. Lá bắc ngoài cụm hoa hình vỏ trấu, 1 cm x 1 cm, mầu vàng. Lá bắc của hoa hình lòng thuyền, kích thước 1,5 mmx 3 mm, phần dưới trắng, phần trên xanh, mép nguyên, có lông mịn phía dưới. Tràng 3, hình trứng, kích thước khoảng 1 mm x 2,5 mm, mầu trắng, mép nguyên. Nhị 6, rời, chỉ nhị dài khoảng 1,5 mm, phần dưới dính với cánh hoa, bao phấn hình hạt đậu, kích thước khoảng 1/3 x ¼ mm, đính vào hai bên trung đới. Bầu trên, 3 ô, cao khoảng 0,5 mm, vòi nhụy hình trụ, dài khoảng 1,5 mm, núm nhụy hình chổi.

Bộ phận dùng: Toàn cây

Phân bố: Cây có nguồn gốc ở Mexico, được di thực sang nước Nga, rồi đến Việt Nam (đầu tiên là tỉnh Thanh Hóa). Nay đã phát triển rộng ra nhiều tỉnh khác, đặc biệt là Hà Nội.

Thành phần hóa học: Các lipid gồm: Triacyglyceride, sulfolipid, digalactosyglycerides. Các acid béo: paraffinic, olefinic. Acid hữu cơ. Các sắc tố caroten, chlorophyl. Phytosterol. Các vitamin PP, B2 và các nguyên tố vi lượng: Fe, Cr, Ni, Cu. Các flavonoid: quercetin, kaempferol isoorientin (3′,4′,5,7- tetrahydroxyflavone-6-C-β-D-glucopyranoside).

Công năng: Thanh nhiệt, giải độc, nhuận phế, tiêu viêm, hóa đàm, lợi thủy.

Công dụng:

Việc sử dụng cây Lược vàng làm thuốc mới chỉ được công bố ở Nga theo bài viết của tác giả Vladimir-Ogarkov đăng trên tạp chí sức khỏe và đời sống của Nga. Cây Lược vàng được dùng để chữa bệnh đường dạ dày ruột, túi mật, lá lách và cả bệnh hen phế quản, dị ứng và ung thư. Các chế phẩm thuốc từ Lược vàng cüng có hiệu quả làm ngừng đau, trừ ngứa, làm liền sẹo, bỏng, chấn thương và gãy xương.

Ở Việt Nam, đặc biệt ở Thanh Hóa, nhiều người ở câu lạc bộ Hàm Rồng đã sử dụng cây Lược vàng để chữa rất nhiều bệnh theo kinh nghiệm dân gian Nga như: viêm họng, viêm phế quản, tê liệt chân tay, đau lưng, khớp, bướu cổ di chứng não, tim mạch, huyết áp và xơ vữa động mạch, u nang buồng trứng.

Liều dùng, cách dùng: Dạng dùng thông thường là lấy cây tươi rửa sạch, nhai với ít muối, nuốt nước (mỗi lần 2-3 lá) hoặc cắt nhỏ, toàn bộ thân rễ thì ngâm rượu uống, làm thuốc bóp ngâm rượu, uống (mỗi lần 1/3 chén con). Ngày dùng 3 lần. Dùng ngoài, giã đắp hoặc xoa bóp bằng rượu ngâm lá.

Ghi chú: Không nên uống với liều lượng quá nhiều, đề phòng tụt huyết áp.

Nguồn Bách Khoa  Y Học