Tác dụng của cây THẠCH VỸ đối với sức khỏe

11

Thạch vỹ còn gọi là Thạch bì, Thạch lan, Phi đao kiếm, Kim tinh thảo là một loại Dương xỉ nhỏ có thân rễ nằm ngang, có tên thực vật như Pyrrosia sheareri (bak) Ching, Pyrrosia petiolosa (Christ) Ching hoặc Pyrrosia Lingua (Thunb) Farw thuộc họ Dương xỉ (Polypodiaceae). Lá dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh.

Cây thạch vĩ dây còn có tên là, dương vong,... Đông y gọi là “hải kim sa” vì lá lóng lánh như những hạt cát vàng (kim sa). Là loại cây leo, thân rễ bò, lá dài, có nhiều cặp lá chét, mỗi lá chét có nhiều lá chét con mang ổ tử nang ở mép. Bao tử hình 4 mặt trắng xám hơi vàng. Vòng đầy đủ nằm ngang gần đỉnh bảo tử nang.
Cây thạch vĩ dây còn có tên là, dương vong,… Đông y gọi là “hải kim sa” vì lá lóng lánh như những hạt cát vàng (kim sa). Là loại cây leo, thân rễ bò, lá dài, có nhiều cặp lá chét, mỗi lá chét có nhiều lá chét con mang ổ tử nang ở mép. Bao tử hình 4 mặt trắng xám hơi vàng. Vòng đầy đủ nằm ngang gần đỉnh bảo tử nang.

Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta, thường bám vào đá, tường hoặc thân cây to. Quanh năm đều có thể hái về bỏ thân rễ và rễ con, lá thái nhỏ làm thuốc khô hoặc tươi.

Tính vị qui kinh:

Vị đắng ngọt, tính hơi hàn, qui kinh Phế, Bàng quang.

Theo các sách thuốc cổ:

  • Sách Bản kinh; vị đắng, tính bình.
  • Sách Lôi công bào chế dược tính giải: nhập 2 kinh Phế Bàng quang.

Thành phần chủ yếu:

Trong lá loại Thạch vỹ Pyrrosiae Linguae có: diploptene, beta-sitosterol, saponin, tannin, anthroquinone.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Thạch vỹ có tác dụng lợi thủy thông lâm, hóa đàm chỉ khái, cầm máu. Chủ trị các chứng lâm, phù thũng, ho, băng lậu, thổ huyết, nục huyết.

Trích đoạn Y văn cổ:

  • Sách Bản kinh: ” chủ lao nhiệt tà khí, ngũ lung bế bất thông, lợi tiểu tiện thủy đạo”.
  • Sách Trấn nam bản thảo: ” chỉ ngọc hành thống”.
  • Sách Bản thảo cương mục: ” chủ băng lậu, kim sang, thanh phế khí”.
  • Sách Bản kinh phùng nguyên: ” Thạch vỹ tính hàn lợi nên sách Bản kinh nói trị lao nhiệt tà khí là chỉ lao lực làm tổn thương tân dịch, nhiệt do chứng lung bế không thông sinh ra chứ không phải hư lao. Trị phụ nữ có thai chuyển dạ, sắc với Sa tiền uống”.

B. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng cầm ho long đờm và có tác dụng kháng khuẩn phần nào. Chiết xuất cồn ête của thuốc hòa trong nước với nồng độ 55 làm giun đất chết sau 45 phút.

Trường Đại học Y khoa Hà nội (1960) thử tác dụng của thuốc trên nhiều loại ký sinh trùng, thấy có tác dụng rõ đối với sán lá ruột (Fasciolopsis buski), ký sinh trùng chết sau khi cho uống thuốc 15 phút.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị viêm đường tiểu: thuốc có tác dụng lợi tiểu thông lâm.

  • Thạch vỹ , Xa tiền tử đều 15g sắc uống trị viêm niệu đạo, viêm bàng quang cấp.
  • Thạch vỹ 10g, Bồ hoàng 5g, Phi Hoạt thạch 8g, Mộc thông 4g, Xa tiền thảo 8g, nước 600ml sắc còn 200ml uống.
  • Thạch vỹ, Sinh Bồ hoàng, Đương qui, Xích thược đều 10g sắc uống trị tiểu gắt, tiểu đỏ.

2.Trị chứng thổ huyết, băng huyết:

  • Thạch vỹ tươi 40g, Địa du than, Tông lữ than đều 20g sắc uống trị phế nhiệt thổ huyết.
  • Thạch vỹ, Trắc bá diệp, Chi tử, Đơn sâm, Kim anh tử đều 10g, Ích mẫu thảo 15g, cọng lá sen 3 cái, Hoa Mồng gà 6g, sắc uống. Trị huyết nhiệt băng lậu.

3.Trị viêm phế quản mạn tính:

  • Thạch vỹ, Binh lang lượng bằng nhau tán bột mịn trộn đều, mỗi lần 5 – 8g uống với nước gừng.
  • Thạch vỹ 5 – 10g độc vị hoặc dùng trong bài thuốc trị viêm phế quản mạn tính đều có kết quả nhất định, thường dùng trong 1 – 2 ngày, đàm giảm rõ rệt (Tư liệu nghiên cứu phòng trị viêm phế quản mạn tính tập 2, do nhà xuất bản Nhân dân Thượng hải xuất bản, 1973).

Liều thường dùng:

  • Liều 5 – 10g, dùng độc vị lượng có thể gấp đôi.

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm

Chữa chứng tiểu tiện khó khăn, nước tiểu đỏ do nhiệt: Thạch vĩ dây 24g cho 400ml nước,  đun sôi khoảng 15 phút, có thể thêm chút đường, uống thay trà trong ngày.  Có thể thay thế bằng các vị thuốc sau: thạch vĩ dây 100g, mang tiêu 100g, hổ phách 40g, bằng sa 20g. Tất cả tán thành bột,  uống ngày 5 – 8g, chia  3 lần, chiêu với nước ấm.

Sản phụ ít sữa: Thạch vĩ dây 12 – 24g, rửa sạch, đổ 400ml nước, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Chữa bỏng lửa (bỏng nhẹ, vết thương hẹp): Thạch vĩ dây 25g, đốt tồn tính, nghiền thành bột mịn, trộn với ít dầu vừng, rửa sạch vết thương bôi vào chỗ bị bỏng.

Chữa ăn uống khó tiêu, bụng trướng đầy do thấp trệ (tỳ thấp trướng mãn): Thạch vĩ dây 20g, bạch truật 8g, cam thảo 2g. Đổ 500ml nước  sắc còn 150ml, chia 2 lần uống trong ngày. Uống sau ăn 15 phút. Uống 5 – 10 ngày.

Hỗ trợ chữa sỏi niệu đạo: Thạch vĩ dây 30g, biển súc 15g, mã đề 30g. Tất cả cho vào ấm đổ 500ml nước, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 1 tuần.  Nếu tiểu tiện khó đau rát: thạch vĩ dây 30g, hoạt thạch 30g, ngọn cành cam thảo 10g tán thành bột, mỗi lần uống 6g với nước sắc mạch môn, ngày 2 – 3 lần.

Lưu  ý: Người tì vị hư hàn không dùng thạch vĩ dây.

Sức khỏe và đời sống

Comments