88

1. Bệnh gan mạn tính

(Chronic liver disease) được định nghĩa là bệnh cảnh có bằng chứng rối loạn chức năng gan liên tục cả về lâm sàng và sinh hóa kéo dài hơn 6 tháng.

hinh-anh-gan-binh-thuong-va-gan-bi-chai
hinh-anh-gan-binh-thuong-va-gan-bi-chai

Bệnh gan mạn tính là một tình trạng bệnh liên quan đến quá trình phá hủy và thoái hóa không ngừng chủ mô gan dẫn đến xơ hóa gan và xơ gan.

Ở gan bình thường, sự tạo sợi (fibrogenesis) và phân hủy sợi (fibrolysis) của mô gan ở trạng thái cân bằng, xơ hóa chỉ xảy ra khi mô sẹo tích tụ quá mức và nhanh hơn quá trình bị phân hủy. Sự tạo thành mô sẹo là đáp ứng bình thường của cơ thể đối với tổn thương, nhưng trong xơ hóa gan, quá trình làm lành mô sẹo bị thất bại.

Xơ hóa gan là tình trạng tích tụ chất nền ngoại bào trong gan, là hậu quả của đáp ứng làm lành tổn thương gan trước những tổn thương lập đi lập lại liên tục khác nhau như: viêm gan virus, tự miễn, thuốc, rượu, bệnh về đường mật, chuyển hóa và miễn dịch.

Xơ hóa gan thường khởi phát âm thầm, và hầu như các bệnh liên quan và tử vong đều xảy ra sau khi xơ gan đã phát triển. Phần lớn những bệnh nhân này thường tiến triển đến xơ gan sau một khoảng thời gian dài 15-20 năm.
Các thành phần của mô sẹo trong xơ gan tương tự nhau dù là bệnh nguyên gì, gồm: các thành phần chất nền ngoại bào (ECM), collagene type I và III, muối sulfate proteoglycan và glycoprotein

2. Nguyên nhân bệnh gan mạn tính

Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á, nơi có tỷ lệ nhiễm virus viêm ganB và C cao. Tình hình lạm dụng rượu ngày càng phổ biến và bệnh nhân nhập viện vì bệnh gan do rượu ngày càng tăng. Chính vì vậy, tỷ lệ bệnh gan mạn tính và xơ gan cũng ở mức cao. Bảng sau là những nhóm nguyên nhân chính gây bệnh bệnh gan mạn.

Nguyên nhân bệnh gan mạn tính

  • Virus : Viêm gan virus C, viêm gan virus B, Cytomegalovirus (CMV), Epstein Barr virus (EBV).
  • Độc chất và thuốc : Rượu, Amiodarone, Methotrexate, Nitrofurantoin…
  • Chuyển hóa : Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH), Haemochromatosis, bệnh Wilson.
  • Bệnh tự miễn : Bệnh gan mạn do nguyên nhân tự miễn, xơ gan ứ mật nguyên phát, viêm đường mật xơ hóa nguyên phát.
  • Nguyên nhân khác : Suy tim phải…

Gần đây, viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (Non alcoholic steatohepatitis- NASH ) được ghi nhận như là nguyên nhân chính gây xơ hóa gan. Ludwig và cộng sự mô tả nó lần đầu tiên, và nó được xem như là một phần của Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu  (Nonalcoholic Fatty Liver Disease- NAFLD). NAFLD là bệnh gan thường gặp nhất ở các nước phương Tây, ảnh hưởng 20% – 33% dân số. Trong một cuộc khảo sát số lượng lớn ở Trung Quốc, tần suất NAFLD khoảng 15% – 30% .

NASH là một phần của hội chứng chuyển hóa với đặc điểm béo phì, đái tháo đường type 2, rối loạn chuyển hóa lipid, và đề kháng insuline. Hiện nay, tần suất béo phì ngày càng gia tăng nên có sự gia tăng tần suất bệnh gan thoái hóa mỡ không do rượu. Nhìn chung, viêm gan do virus và rượu là nguyên nhân thường gặp nhất.

Trong những nguyên nhân trên, tiến trình tự nhiên của xơ hóa gan trong bệnh viêm gan virusC là được hiểu hoàn chỉnh nhất, còn bệnh viêm gan virus B và bệnh viêm gan thoái hóa mỡ bao gồm do rượu và không do rượu vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Diễn tiến xơ hóa gan trong những bệnh khác phần lớn đều là những giả thuyết, nhưng sự phát triển đến xơ gan cần nhiều năm đến nhiều thập niên.

3. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ XƠ HÓA GAN

Ngày càng có nhiều đòi hỏi tìm những phương pháp mới để đánh giá xơ hóa gan,đặc biệt là những phương pháp đánh giá xơ hóa gan không xâm lấn. Đánh giá mức độ xơ hóa gan có nhiều ý nghĩa to lớn, nó không những chẩn đoán giai đoạn xơ hóa gan, mà còn đưa ra phương án điều trị chính xác, theo dõi và tiên lượng trong bệnh lý bệnh gan mạn tính.

3.1  Đánh giá xơ hóa gan xâm lấn – mô bệnh học

Dù đã được áp dụng từ hơn 115 năm nay, nhưng sinh thiết gan hiện nay vẫn được xem là “tiêu chuẩn vàng” trong đánh giá mô học gan, mức độ bệnh, nguyên nhân và xơ hóa gan.

3.1.1 Các phương pháp sinh thiết gan

Cho đến nay, nhiều phương pháp và kỹ thuật sinh thiết gan được công bố, có ba phương pháp sinh thiết gan như sau:

– Sinh thiết gan qua da: Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn và tay phải để lên đầu, sát trùng và gây tê vùng da sinh thiết, thủ thuật này có thể là sinh thiết “mù” haythực hiện dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CTscan.

– Sinh thiết gan qua tĩnh mạch cảnh: Thực hiện thủ thuật này khi bệnh nhân có rối loạn đông máu hay cổ chướng nhiều và thực hiện nhiều nhất là sinh thiết gan qua đường tĩnh mạch cảnh bên phải.

– Sinh thiết gan qua soi ổ bụng (Laparoscopy): Cách sinh thiết này nhằm lấy mẫu mô từ những vùng đặc biệt hoặc những vùng khác nhau của gan, hoặc khi có nguy cơ lây lan tế bào ung thư hay bệnh lý truyền nhiễm.

Các thang điểm đánh giá mô bệnh học

Chẩn đoán giai đoạn xơ hóa trên mô học
Chẩn đoán giai đoạn xơ hóa trên mô học

Nguồn: Zachary D.Goodman, Grading and staging systems for inflammation and fibrosis in chronic liver diseases, J Hepatol, 47(4)
Nhiều xét nghiệm cận lâm sàn chẩn đoán không xâm lấn được nghiên cứu, nhưng vẫn chưa có xét nghiệm nào được chấp nhận để thay thế mô bệnh học, được xem như tiêu chuẩn vàng, quyết định trong chẩn đoán mức độ xơ hóa gan và xơ gan.

Các hệ thống thang điểm chính đánh giá tổn thương mô học của gan được biết đến nhiều nhất hiện nay: Thang điểm HAI-Knodell, HAI Ishak-Knodell (HAI-Knodell cải biên), và hệ thống điểm Metavir.

Thang điểm Ishak (Knodell) phân đến 6 giai đoạn, đánh giá cả sự xơ hóa và hoạt động viêm. Phần lớn các giai đoạn có sự phân biệt, tách bạch rõ ràng, nhưng cũng có những giai đoạn tạo ra nhiều sự nhầm lẫn lớn. Thang điểm này cũng có giá trị, nhưng không dễ sử dụng trong thực hành lâm sàng.

Tiếp theo: >Các xét nghiệm huyết thanh đánh giá xơ hóa gan

5/5 (1 Review)

Comments