Nga truật – Nghệ đen Nhóm thuốc hoạt huyết, khứ ứ

Nga truật (nghệ đen) có tác dụng rất tốt cho các bệnh lý về đường tiêu hóa như: Viêm niêm mạc và loét thành tá tràng, ăn uống chậm tiêu, thường đau bụng không rõ nguyên nhân, buồn nôn, ho, kinh nguyệt không đều. Còn dùng làm thuốc bổ dưới dạng thuốc sắc, bột hoặc viên, có thể cho thêm mật ong.

Nga Truất có công dụng: Bổ dạ dày, khó tiêu, giảm đau, điều kinh (Thân rễ sắc uống).
Nga Truất có công dụng: Bổ dạ dày, khó tiêu, giảm đau, điều kinh (Thân rễ sắc uống).

Tên tiếng việt: Nga truật, Nghệ đen, Nghệ tím, Bồng truật, Ngải tím, Ngải xanh, Bồng nga, Nghệ đăm (Tày), Mgang mơ lung (Bana)
Tên khoa học: Curcuma zedoaria (Berg.) Roscoe – Amomum zedoaria Berg.
Họ: Zingiberaceae
Công dụng: Bổ dạ dày, khó tiêu, giảm đau, điều kinh (Thân rễ sắc uống).

Thành phần hóa học

Trong nga truật có từ 1-1,5% tinh dầu; 3,5% chất nhầy, chất nhựa. Trong tinh dầu, thành phần chủ yếu gồm 48% cesquiterpen ancol, 35% Zingibezen, 9,6% Cinecol, các alpha pipen, D – camphen, D – campho, D – bornecol.

Tinh dầu sánh, có mùi đặc biệt, giống như mùi thơm của dầu long não, có màu xanh, vàng nhạt, tỷ trọng là 0,982.

  • Nga truật còn gọi là Nghệ đen, nghệ tím, ngải tím, bồng truật, ngải xanh, bồng nga, bồng dược, nghệ đàm (Tày), sùng meng (Dao)
  • Tên khoa học Curcuma zedoaria Rosc. (Curcuma zerumbet Roxb).
  • Tên nước ngoài: Round Zedoary, long zedoary, Cochin-turner’e (Anh); zédoaire (Pháp).
  • Thuộc họ gừng Zinglberaceae.
  • Nga truật (Rhizma Zedoariae) là thân rễ phơi khô của cây ngải tím Curcuma zedoaria Rosc.

Mô tả cây

  • Cây thảo, cao 1-1,5m. Thân rễ hình nón, có vân ngang và khía dọc, mang những củ hình trụ tỏa ra theo hình chân vịt, dày, nạc, có màu vàng nhạt ở trong và những vòng màu xám ở củ già. Ngoài những củ hình trụ, thân rễ còn mang những củ hình trái xoan hoặc hình trứng, màu trắng, có cuống dài và mảnh. Lá hình mũi mác, dài 30-60cm, rộng 7-8cm, không cuống, có bẹ dài ở gốc, đầu nhọn có đốm tía dọc theo gân giữa ở mặt trên, mép nguyên hơi uốn lượn.
  • Cụm hoa hình trụ, dài 20cm, rộng 5cm, mọc từ thân rễ trên một cán ở bên cạnh thân có lá, thường xuất hiện trước khi cây ra lá; lá bắc phía dưới màu lục nhạt viền đỏ ở mép, lá bắc phía ngọn không mang hoa sinh sản, màu vàng nhạt, pha hồng ở đầu lá; hoa nhiều, màu vàng; đài có hình ống có lông. 3 răng không đều; tràng có ống dài gấp 3 lần đài, thùy hình mũi mác; bao phấn kéo dài thành cựa chẽ ngang; trung đới dạng bản tròn, ngắn, chỉ nhị đính với các nhị lép; cánh môi thắt lại ở gốc, lõm ở đầu, màu vàng; nhị lép đính nhau ở nửa dưới; bầu có lông, nhụy lép hình giùi.
  • Mùa hoa quả : tháng 4-5

Phân bố sinh thái

  • Chi Curcuma L. Gồm khoảng gần 50 loài, phân bố khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, Bắc Australia và một số đảo ở Thái Bình Dương. Ở Miaruna có 20 loài, Việt Nam 15 loài (Nguyên Tiến Bân, 1997); phần lớn là cây mọc tự nhiên. Một số loài là cây trồng để làm gia vị. lấy chất màu và làm thuốc.
  • Nga truật có nguồn gốc từ vùng Đông – Bắc Ấn Độ. Cây mọc tự nhiên và được trồng khắp vùng nhiệt đới Nam và Đông Nam châu Á, bao gồm Ấn Độ, Malaysia, Srilanca, Thái Lan, Philippin, Indonesia, Campuchia, Lào, Việt Nam, đảo Hải Nam, Đài Loan và các tỉnh phía nam lục địa Trung Quốc. Cây còn  phân bố ở cả Madagasca. Ở Việt Nam, nga truật phân bố rộng rãi ở khắp các tỉnh vùng núi và trung du, nhất là Hà Giang, Lai Châu, Yên Bái, Là Cai, Tuyên Quang, Sơn La, Cao Bằng,… ở phía nam có tỉnh Bình Định và Quảng Nam. Cây còn được trồng rải rác trong nhân dân. Ở Hưng Yên (vùng Nghĩa Trai), nga truật được trồng đại trà ở ruộng, để chủ động cho việc cung cấp nguyên liệu.
  • Nga truật là loài cây thảo, có hệ thống thân rễ phân nhánh phát triển, phần trên mặt đất lụi vào mùa đông (ở miền Bắc) và mùa khô (miền Nam). Cây thường mọc thành khóm, đôi khi trở thành quần thể thuần loại trên đất ẩm, gần bờ suối trong thung lũng hay trên nương rẫy. Độ cao từ vài trăm mét đến 1600m. Cây ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. Vào giữa mùa xuân, từ thân rễ mọc lên nhiều thân khí sinh. Song trong một khóm thường chỉ có một thân chính sinh ra từ thân rễ. Phần thân rễ này, thường gọi là “củ cái”, chỉ tồn tại được 2 năm, sau đó tự thối rữa, để lại các phần thân rễ non hơn phát triển thành những “củ cái” mới. Hoa nga truật tự thụ phấn hoặc nhờ côn trùng. Chưa quan sát được quả và cây non mọc từ hạt nhưng chắc chắn sự phát triển tự nhiên để mở rộng khu phân bố vẫn phải từ hạt.
  • Việt Nam có nguồn nga truật tự nhiên phong phú. Riêng ở tỉnh Hà Giang, qua điều tra, ước tính có thể khai thác vài ngàn tấn dược liệu một năm.

Cách dùng

  • Nga truật được trồng chủ yếu trên đất tận dụng ở bờ ao, bờ suối, nơi có bóng râm ở trung du và miền núi.
  • Trồng nga truật bằng rễ củ vào mùa xuân, thu hoạch vào mùa đông. Khi thu hoạch chọn củ non có mầm để làm giống.
  • Đất trồng thường không cần cày bừa mà chỉ cần cuốc xới, không lên uống mà trồng theo hốc, mỗi hốc 1-2 mầm giống. Khoảng cách trồng 30-40 cm cho một cây. Khi cây mọc thỉnh thoảng làm cỏ, xới xáo, tưới phân chuồng, nước giải hoặc phân đạm.Nga truật được trồng chủ yếu theo tập quán quảng canh với năng suất thấp.

Bộ phận dùng

  • Thân rễ thu hái vào mùa đông, rửa sạch thái lát phơi khô.
  • Nếu là thân rễ khô thì do nhanh cho mềm, thái lát, tẩm giấm một đêm rồi sao qua (Phương pháp bào chế đông dược, 1965)

Tác dụng dược liệu

  • Theo Macda II. (Nhật Bản), bột bào chế từ thân rễ nga truật thí nghiệm trên chuột cống trắng bằng đường uống, có tác dụng tăng cường sự bài tiết mật một cách rõ rệt, đồng thời ức chê nhẹ sự phân tiết dịch dạ dày, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, có tác dụng ức chế tốc độ chuyển dịch của than hoạt trong ruột.
  • Ngoài ra, nga truật còn có tác dụng kích thích tiêu hóa, kiên vị, bài hơi. Theo tài liệu nước ngoài, tinh dầu nga truật có tác dụng kháng khuẩn, cao cồn từ thân rễ có tác dụng ngừa thai trên súc vật thí nghiệm.

Tính vị, công năng

  • Nga truật có vị cay, đắng, tính ôn, vào kinh can, có tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, tiêu tích hóa thực

Công dụng

  • Trong y học cổ truyền, nga truật được dùng làm thuốc chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, bế kinh, tích huyết, hành kinh máu đông thành cục. Liều dùng hành ngày 3 – 6 g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
  • Y học hiện đại lại sử dụng nga truậ làm thuốc bổ trong rượu trường sinh (Ehxu de longuc vic) gồm lô hội 25g, long đởm thảo 5g, đại hoàng 2,5g, nga truật 2,5g, phan hồng hoa 2,5g, Polyporus oficinalis 2,5g. Các vị thái nhỏ ngâm trong 2.000ml cồn 600 trong vòng 10 ngày, lọc lấy rượu mà uống, ngày uống từ 2-5ml.
  • Ở Ấn Độ, nước sắc nga truật phối hợp với hạt tiêu, quế và mật ong dùng chữa cảm lạnh.

Bài thuốc có nga truật

  • Chữa tích huyết, hành kinh máu đông thành cũ, đau bụng khi có kinh hoặc rong kinh ra huyết đặc ri rỉ.

Nga truật và ích mẫu mỗi vị 15 g, sắc nước uống

  • Chữa nôn ở trẻ bú sữa:

Nga truật 4g, muối ăn 3 hạt, sắc với sữa cho sôi chừng 5 phút, hòa tan ít ngưu hoàng (lượng bằng hạt gạo) cho trẻ uống.

  • Chữa cam tích, phân thối khẳn, biếng ăn ở trẻ em:

Nga truật 6g, hạt muống trâu 4g, sắc nước uống.

Nguồn Tra cứu dược

10 bài thuốc chữa đau dạ dày tại nhà hiệu quả

Tổng hợp 10 bài thuốc chữa trị bệnh đau dạ dày được nhiều thầy thuốc khuyên dùng

10 bài thuốc được sử dùng để điều trị bệnh đau dạ dày
10 bài thuốc được sử dùng để điều trị bệnh đau dạ dày

1. Bột nghệ (Nghệ đen hoặc nghệ vàng) và mật ong:

Nghệ vàng và nghệ đen đều có tác dụng chống loét dạ dày, giảm tiết dịch vị và nhờ tinh dầu nghệ có tính kiềm nên giúp làm giảm độ acid của dịch vị, nghệ vàng còn có tác dụng chống viêm và làm lành vết loét nên dân gian hay dùng chung với mật ong để chữa đau dạ dày do thừa dịch vị. Mật ong cũng có tác dụng làm êm dịu tránh kích ứng ở dạ dày.

2 Sữa chua và các sản phẩm sữa ít béo khác

Trước đây, những người bị viêm loét dạ dày được khuyến cáo kiêng tất cả các thức ăn chua vì sợ nó làm tăng tính axit, làm viêm loét nặng hơn. Nhưng nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng, axit lactic trong sữa chua hóa ra lại có tác dụng kìm hãm sự phát triển của Helicobacter pylori (thủ phạm gây viêm loét dạ dày – tá tràng).

Ngoài ra, các vi khuẩn lành mạnh lên men trong sữa chua như lactobacillus acidophilus khi bám vào niêm mạc ruột sẽ tiết ra chất kháng sinh tự nhiên để giúp hệ miễn dịch đấu tranh chống lại sự viêm loét. Đồng thời làm giảm tác dụng phụ của thuốc kháng sinh có thể xảy ra trong khi điều trị đau dạ dày.

Bạn có thể kết hợp ăn sữa chua lên men tự nhiên với một thìa nhỏ bột nghệ nhằm tăng cường khả năng kháng viêm cho dạ dày.

3. Chuối xanh + mật ong

Trong dân gian, bài thuốc tự nhiên chữa đau dạ dày nhờ chuối được lưu truyền rất phổ biến vì chuối rẻ, dễ tìm và mang lại hiệu quả cao.

Đối với y học hiện đại, chuối được xếp vào đầu danh sách các loại quả đặc biệt tốt cho cơ thể. Chuối xanh giúp kích thích sự phát triển lớp màng nhầy dạ dày, ngăn cản sự tấn công của vi khuẩn gây bệnh. Chuối có khả năng trung hòa hàm lượng axit để giảm nguy cơ viêm tấy.

Chuối cũng chứa nhiều chất pectin- một dạng chất xơ hòa tan có lợi cho người mắc bệnh tiêu hóa. Chính vì thế, người bị đau dạ dày không nên bỏ qua loại trái cây này trong quá trình điều trị bệnh.

Tốt nhất là kết hợp chuối xanh với mật ong để chữa đau dạ dày.

Nguyên liệu: 2 nải chuối xanh non và mật ong nguyên chất

Cách làm: Lột vỏ chuối xanh, ngâm nước cho ra bớt nhựa và chát. Ngâm xong thì thái lát mỏng, phơi khô và tán thành bột. Trộn bột chuối xanh với mật ong hoặc viên thành viên uống ngày 3 lần.

Sử dụng thường xuyên thì không chỉ dạ dày hết bệnh, mà cơ thể còn khỏe mạnh hơn, da dẻ được cải thiện đáng kể.

 4. Gừng:

Gừng là một trong những vị thuốc tự nhiên chữa bệnh tốt nhất. Gừng chứa các thành phần kháng viêm cũng như có tác dụng chống oxy hóa. Sử dụng một lát gừng tươi sẽ giúp bạn dễ chịu hơn khi bị đau hay co thắt dạ dày.

Thêm một vài lát gừng thái nhỏ vào tách trà buổi sáng hoặc buổi tối, đặc biệt là trà xanh sẽ hạn chế được cơn đau dạ dày trong vòng 2-3 ngày. Ngoài ra, bạn cũng có thể thêm một thìa nước cốt gừng tươi và một thìa nước chanh vào cốc nước lọc sau đó nguấy đều. Tiếp theo thêm một thìa mật ong vào hỗn hợp trên và uống đều đặn vào buổi sáng hàng ngày.

5. Cam thảo:

Cam thảo kích thích sự phòng thủ của cơ thể để ngăn chặn sự hình thành các vết loét. Đặc biệt nhiều thầy thuốc còn tín nhiệm cam thảo hơn hẳn các thuốc loại thuốc kháng axit khác trong điều trị viêm loét dạ dày.

Cam thảo cần được ăn/ hoặc uống khoảng 20-30 phút trước bữa ăn để việc điều trị hiệu quả hơn các vết loét vì lúc ấy cam thảo sẽ hoạt động như một lớp màng trong dạ dày, từ đó giúp bảo vệ dạ dày của bạn.

6. Lá mơ lông:

Lấy khoảng 20 – 30 gr lá mơ lông rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt uống một lần trong ngày. Kiên trì dùng sẽ có hiệu quả.

7. Quả mơ:

Loại lá này hết sức quen thuộc với chúng ta nhưng không phải ai cũng biết đến công dụng chữa bệnh đau dạ dày của nó. Loại lá này có vị đắng nhẹ, mùi thơm có tác dụng thanh nhiệt, kháng viêm, trừ phong, hoạt huyết, trừ thấp tiêu thũng… Các nhà khoa học cũng đã tìm ra trong lá mơ có chứa nhiều caroten, vitamin C cùng khá nhiều tinh dầu có thể giúp ức chế sự phát triển của các loại vi khuẩn gây bệnh.

Để chữa bệnh đau dạ dày, bạn có thể dùng lá mơ vắt nước để uống, hoặc làm món lá mơ với trứng vừa ngon lại có tác dụng trị bệnh.

Nước cất hạt mơ có tác dụng chữa ho, khó thở, nôn mửa, đau dạ dày. Loại thuốc này có độc nên mỗi lần chỉ được dùng 0,5 đến 2 ml, mỗi ngày không uống quá 6 ml.

 8. Cây nha đam:

Nha đam không chỉ là nguyên liệu hữu ích trong việc làm đẹp mà còn có tác dụng rất tốt với bệnh đau dạ dày. Theo các nhà khoa học, trong gel của nha đam có chứa nhiều hoạt chất có khả năng ức chế men pepsin và axid hydrochloric không tiết ra nhiều, hạn chế được tình trạng viêm loét dạ dày. Đồng thời, nguyên liệu này còn giúp nhuận tràng hiệu quả.

Việc tiến hành điều trị bằng nguyên liệu này được thực hiện như sau:

  • Chuẩn bị: một ít nha đam và mật ong
  • Nha đam rửa thật sạch, thái nhỏ rồi bỏ vào máy xay sinh tố, xay thật nhuyễn
  • Thêm mật ong vào lọ thủy tinh ngâm chung với mật ong vừa xay.
  • Bảo quản trong tủ lạnh để dùng dần trong vòng 1 tuần.

9. Nước ép bạc hà

Lá bạc hà có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và được sử dụng để chữa trị chứng đau và co thắt dạ dày.

Cách sử dụng:

  • Nhai một hoặc hai lá bạc hà tươi 2-3 lần trong vài ngày sẽ dịu bớt cơn đau dạ dày của bạn.
  • Cho một vài nhánh bạc hà vào một cốc trà nóng. Uống 2-3 lần trong ngày.
  • Trà bạc hà sẽ giúp bạn làm dịu mát những cơn đau dạ dày.

10. Khoai tây:

Khoai tây gọt bỏ vỏ, nghiền nát, lọc lấy nước, đun sôi để uống ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa to, liên tục trong 2-3 tuần.

Ngoài việc sử dụng 3 bài thuốc chữa đau dạ dày tự nhiên ở trên, để việc chữa bệnh được hiệu quả hơn, người bệnh cần lưu ý:

-Hạn chế thức ăn chiên xào

-Tăng cường thức ăn mềm, thức ăn luộc hấp

-Không ăn quá no sẽ làm dạ dày tiết nhiều axit

-Khi ăn cần nhai kỹ để gia tăng sự bài tiết nước bọt, có tác dụng giảm axit và bão hòa a xít trong dạ dày

-Luôn giữ tinh thần lạc quan để tránh kích thích đến hệ thần kinh, dẫn tới tiết axit dạ dày

Tìm thuốc nhanh tổng hợp

Tác dụng của cây cỏ xước

Cây cỏ Xước có tác dụng hoạt huyết, khứ ứ, bố can thận mạnh gân, xương, dùng trị phong thấp, đau lưng, đau nhức xương khớp,đau lưng, đau nhức xương khớp, chân tay co quắp, kinh nguyệt không đều, bế kinh đau bụng, bí tiểu tiện, đái rắt buốt.

Hình ảnh cây cỏ xước
Hình ảnh cây cỏ xước

Giới thiệu chung

Cây Cỏ xước có tên khoa học: Achyranthes aspera L., thuộc chi Achyranthes, họ Amaranthaceae (Rau giền, Dền). Tên thông thường: Cỏ xước, Ngưu tất nam, Nhả khoanh ngù (Tài), Cỏ nhả lìn ngu (Thái), Hà ngù.

Cỏ xước là loại cây thảo, cao gần 1 m, có lông mềm, thân cứng, phình lên ở những mấu. Lá mọc đối, hình trứng, nhẵn hoặc hơi có lông, gốc thuôn, đầu tù, dày 3–12 cm; cuống lá dài. Cụm hoa mọc thành bông đơn ở ngọn thân, dài 20-30 cm, hoa mọc rủ xuống áp sát vào cuống cụm hoa. Quả nang có lá bắc còn lại tạo hình gai nhọn dễ mắc vào sớ vải khi chạm phải; vỏ quả rất mỏng, dính vào hạt; hạt hình trứng dài, dày 1 mm. Mùa hoa quả tháng 7–12. Hình dáng cỏ xước rất gần giống với cây ngưu tất, cũng là loại dược thảo rất hữu dụng ở nhiều nước Trung Quốc, Ấn độ, Nepal,…

Cây cỏ xước đã được sử dụng trong y học cổ truyền nước ta từ lâu, vì những công dụng hữu hiệu trong điều trị đau khớp, nhức đầu, sốt rét, viêm thận, sỏi niệu và trị gan. Đối với phụ nữ, cỏ xước giúp làm giảm rối loạn kinh nguyệt, đau do kinh bế, đau bụng sau sanh. Cây cỏ xước vừa là phương thuốc vừa là một nguyên liệu tốt trong nhiều bài thuốc hiện đang có tên trong danh mục thuốc điều trị của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Viện dược liệu Trung ương.

Cỏ  Xước   là  dược liệu   sử   dụng rễ đã phơi hay sấy khô của cây  Cỏ  Xước (Achyranthes aspera L)có  tác dụng  hoạt huyếtkhứ ứ, bổ  can thận mạnh gân xương. Dùng trị  phong thấp, đau lưng, đau nhức xương khớp, chân tay co quắp, kinh nguyệt không đều, bế kinh đau bụng,  bí tiểu tiện, đái rắt buốt

Bài thuốc trị  bệnh bằng cây Cỏ Xước

– Chữa chứng sổ mũi, sốt: Cỏ xước 30g, đơn buốt 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

– Chữa quai bị:

Lấy  cỏ  xước giã nhỏ chế thành nước súc miệng và uống trong; còn bên ngoài lấy  lượng vừa đủ giã đắp vào nơi  quai bị sưng đau.

– Chống co  giật (kể cả bại liệt, phong thấp teo cơ,  xơ  vữa mạch máu): Rễ  cỏ xước 40 – 60g sắc lấy  nước thuốc uống nhiều lần trong ngày.

– Chữa viêm gan, viêm thận (kể cả viêm bang quang, đái vàng thẫm, đái đỏ, đái ra sỏi): Cỏ xước 15g, cỏ  tháp bút 15g,  mộc thông15g, mã đề (hay hạt lá bông) 15g, sinh địa15g,   rễ cỏ  tranh15g, sắc lấy  nước uống với  bột hoạt thạch 15g, chia ba lần.

Chữa trị viêm cầu thận

(phù thũng, đái đỏ, đái són, viêm gan virus, đái vàng thẫm, da vàng, viêm bang quang, đái ra máu): Rễ  cỏ  xước 30g, rễ cỏ  tranh 15g, mã đề 15g, mộc thông 15g, huyết dụ15g, lá móng tay 15g,   huyền sâm 15g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Chữa các chứng bốc hỏa

(nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, ù tai, tăng huyết áp, rối  loạn tiền đình, khó ngủ, đau nhức dây thần kinh, rút gân, co  giật, táo bón): Rễ  cỏ  xước 30g, hạt muồng sao 20g, sắc uống mỗi  ngày 1 thang chia 3 lần; thuốc có  công hiệu an thần.

Chữa thấp khớp đang sưng:

Rễ  cỏ  xước 16g, nhọ nồi  16g, hy thiêm thảo 16g,  phục linh20g, ngải cứu 12g,  thương nhĩ  tử12g, sao vàng sắc lấy  ba lần nước thuốc, sau trộn chung cô  sắc đặc chia 3 lần uống. Ngày uống 1 thang trong 7 – 10 ngày liền. Hoặc cỏ  xước 40g, hy  thiêm 30g, thổ phục linh  20g, cỏ mực 20g, ngải cứu 12g, quả ké đầu ngựa 12g, sắc lấy  nước thuốc đặc uống trong ngày.

– Viêm đa khớp dạng thấp:

Rễ  cỏ  xước tẩm rượu sao 20g,  độc hoạt12g, tang ký sinh16g, dây đau xương 16g,  tục đoạn12g, đương quy 12g, thục địa 12g, bạch thược 12g, đảng sâm 12g, tần giao 12g, quế chi  8g, xuyên khung 8g, cam thảo 6g, tế tân 6g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, trong 10 ngày.

– Chữa bệnh gút:

Lá lốt  15g, rễ bưởi  bung 15g, rễ cây vòi  voi  15g, tất cả thái mỏng sao vàng, rồi  sắc lấy  nước đặc chia ba lần uống trong ngày. Ngày dùng 1 thang, trong 7 – 10 ngày liền  (chưa có  nhiều thông tin  về bài thuốc này).

– Chữa kinh nguyệt không đều, huyết hư:

Rễ  cỏ  xước 20g, cỏ  cú  (tứ  chế) 16g, ích  mẫu 16g, nghệ xanh 16g, rễ gai (gai lá  làm bánh) 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, uống 10 ngày. Không dùng cho người có  thai.

– Chữa suy thận, phù thũng, nặng chân, vàng da:

Rễ  cỏ  xước sao 30g, mã đề cả cây 30g, cúc bách nhật cả cây 30g, cỏ  mực 30g, sắc ngày uống 1 thang, chia 2 – 3 lần, uống liền  trong 7 – 10 ngày.

– Chữa trị  mỡ  máu cao

(kể cả xơ  vữa động mạch, huyết áp cao, nhức đầu chóng mặt, ù tai, mờ  mắt): Cỏ  xước 16g, hạt muồng sao vàng 12g, xuyên khung 12g, hy  thiêm 12g, nấm mèo 10g, đương quy 16g, cỏ  mực 20g, sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, khi  uống vớt  bã nấm mèo ra ăn, nhai kỹ  chiêu với nước thuốc. Cần uống liên  tục 20 – 30 ngày.

– Hỗ trợ  điều trị bệnh viêm cầu thận

(phù thũng, đái són, đái vàng thẫm, vàng da): Rễ  cây cỏ  xước 25g, rễ cỏ  tranh, mã đề, mộc thông, huyết dụ, lá  móng tay, huyền sâm, mỗi  vị 10g. Sắc với  600ml nước còn 200ml, chia uống 2 lần vào buối sáng và trưa sau các bữa ăn. Mỗi liệu  trình điều trị  10 ngày. Nghỉ  15 ngày lại tiếp tục sử  dụng đơn thuốc này (phải theo chỉ  định của thầy thuốc).Hoặc rễ cỏ  xước sao vàng 30g, mã đề cả cây 20g, cúc bách nhật cả cây 25g, cỏ  mực 20g, sắc ngày uống 1 thang, chia 2 – 3 lần, uống liền  trong 10 ngày.

– Cây  cỏ  xước chữa sổ mũi do  viêm mũi dị ứng:

Rễ  cỏ  xước 30g, lá  diễn, đơn buốt mỗi  vị 20g sắc với  400ml nước còn 100ml. Uống trong ngày, nên uống khi  thuốc còn ấm. Dùng trong 5 ngày.

Chú  ý: Có công dụng giống cây  Ngưu tất được di thực vào nước ta ( Hoài ngưu tất, Ngưu tất sắc).

Cách dùng, liều  lượng

Ngày dùng 6 – 15 g. Dạng thuốc sắc. Kiêng kỵ Phụ nữ  có  thai, ỉa lỏng, người di tinh không dùng.

Nguồn các bài thuốc chữa trị Y Dược Việt Nam

Tác dụng của cây bồ công anh

Bồ công anh có có những tên khác như rau bồ cóc, diếp dại, mũi mác, rau bao; thường mọc hoang ở nhiều nơi.

Tên khoa hoc Lactuce indica L

Mô tả sơ lược về Cây bồ công anh

bo-cong-anh
Cây bồ công anh

Cây thảo, mọc đứng, sống một năm hay hai năm. Thân nhẵn, thẳng, cao 0,5-1 m, có khi đến 2m, ít phân cành, đôi khi có những đốm tía. Lá mọc so le, gần như không cuống, rất đa dạng. Những lá ở dưới thuôn dài, xẻ thùy không đều, hẹp và sâu, thùy lớn và thùy nhỏ xen kẽ nhau, mép có răng cưa, gốc tù, đầu nhọn; các lá ở giữa và ở trên ngắn và hẹp hơn, có ít răng hoặc hoàn toàn nguyên.
Cụm hoa là một đầu, tụ họp thành chùy dài 20 – 40cm, mọc ở ngọn thân và kẽ lá, phân nhánh nhiều, mỗi nhánh mang 2 – 5 đầu; tổng bao hình trụ, mỗi đầu có 8- 10 hoa màu vàng hoặc vàng nhạt; tràng hoa có lưỡi dài, ống mảnh; nhị 5, bao phấn có đỉnh rất tròn, tai hình dùi ; vòi nhụy có gai.
Quả bế, màu đen, có mào lông trắng nhạt, 2 cạnh có cánh, 2 cạnh khác giảm thành một đường lồi. Thân và lá khi bấm có nhựa màu trắng chảy ra.
Mùa hoa: tháng 6 – 7; mùa quả: tháng 8 – 9.
Cây dễ nhầm lẫn:
Bồ công anh hoa tím – Cichorium intybus L. chicory, wild endive (Anh), chicorée (Pháp). Cây nhập trồng, có nguồn gốc ở vùng Địa Trung Hải.
Theo  y  học  cổ  truyền,  bồ  công anh vị đắng ngọt, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chữa các bệnh mụn nhọt, lở loét, viêm dạ dày

– Tá tràng, viêm gan, viêm họng

Bồ công anh được thử nghiệm với phương pháp lồng cử động đã thể hiện tác dụng an thần.
Flavonoid của bồ công anh đã được nghiên cứu tác dụng sinh học thấy có tác dụng ức chế men oxy hóa khử peroxydase và catalase máu chuột cống trắng. Những thí nghiệm tiến hành với huyết thanh người cũng cho những kết quả ức chế men oxy hóa khử rõ rệt.
Theo tài liệu nước ngoài, tại một số nước, người ta có sử dụng và nghiên cứu những loài Lactuca khác như L. virosa, L. sativa (rau diếp ăn), thấy những cây này không độc và có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương gây ngủ nhẹ.
Công dụng
Bồ công anh được dùng điều trị tỳ vị có hỏa uất, sưng vú, áp xe, tràng nhạc, mụn nhọt. Ngày dùng 20 – 40g cây tươi ép lấy nước hoặc 8 – 30g cây khô sắc uống, Thường phối hợp với các vị thuốc khác. Đắp ngoài trị ung nhọt. Có trường hợp dùng uống để điều trị bệnh đau dạ dày, ăn uống kém tiêu.
Kiêng kỵ: Trong các trường hợp âm hư hoặc tràng nhạc, ung nhọt đã vỡ mủ, khi dùng bồ công anh nên thận trọng.
Trích  “Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam”
Bồ công anh còn chứa nhiều chất sắt tương đương trong rau dền, hàm lượng vitamin A cao gấp bốn lần rau diếp và rất giàu các nguyên tố vi lượng như manhê, potassium, calcium, sodium và nhất là vitamin C, B. Ngoài ra bồ công anh còn chứa protein, chất béo, tinh bột… Theo y học cổ truyền, một số dược tính của bồ công anh như sau:

Chống loãng xương: hàm lượng manhê cao trong bồ công anh rất tốt cho những bệnh nhân loãng xương, còi xương. Xay lá ở dạng nước ép (khoảng 100gr lá tươi) phối hợp với cà rốt hoặc củ cải, uống mỗi ngày rất hiệu quả.

Chữa rối loạn gan mật: Phối hợp với cải xà lách xoong chế thành một loại nước ép, sẽ rất hiệu quả và giúp gan mật hoạt động bình thường. Các bệnh nhân đau gan, vàng da có thể sử dụng thường xuyên dạng nước ép hoặc dạng trà được bào chế sẵn.

Chữa suy nhược cơ thể: Bồ công anh có tác dụng nâng đỡ và tăng cường hoạt động của các cơ quan nội tạng trong cơ thể, chữa suy nhược, biếng ăn. Nó còn có tính lọc máu, tẩy độc cho cơ thể và làm gia tăng sức đề kháng.

Chữa các rối loạn trên hệ bài tiết: toàn cây bồ công anh được chế biến thành một loại trà, uống mỗi ngày làm gia tăng lượng nước tiểu bài tiết. Chữa mụn cóc: cắt ngang phần gốc của cây và lấy chất dịch tiết ra từ cây bôi lên chỗ mụn cóc, 2-3 lần mỗi ngày, sẽ thấy hiệu quả.

Chữa viêm tuyến vú, tắc tia sữa: phụ nữ sau khi sinh bị viêm tuyến vú gây đau nhức dữ dội, dùng lá sắc lấy nước uống.

Cách dùng: Liều dùng hằng ngày 20-40g lá tươi hoặc 10-15g lá khô. Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác như hạ khô thảo, thường dùng dưới dạng thuốc sắc có thêm đường cho dễ uống. Nên phối hợp uống trong và giã nát đắp ngoài thì rất hiệu quả.

Chữa các chứng viêm loét: bồ công anh còn chữa viêm loét dạ dày, ung thư vú, mụn nhọt, ghẻ lở, các bệnh ngoài da, giúp làn da tươi sáng, trẻ hóa, ngừa ung thư nhờ tác dụng tăng cường thải độc cho gan.

Cách dùng: Mỗi ngày khoảng 20g, thêm hạ khô thảo, kim ngân hoa đồng lượng, sắc với 600ml nước, đun cạn còn 1/2, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Cách dùng – Làm rau ăn: lá bồ công anh hấp chín được sử dụng như một loại rau cải hay đem dùng tươi thay thế rau xà lách. Khi dùng nên dùng tay xé nhỏ lá tốt hơn là dùng dao cắt để giữ được mùi của lá. – Nấu canh hoặc chế biến thành món xúp chung với các loại rau khác như rau diếp, có mùi vị dễ chịu khi ăn.

Dạng trà: lá khô được bào chế thành trà hoặc làm nguyên liệu cho các loại thức uống khác. DS LÊ KIM PHỤNG

Tác dụng của cây Dâm Dương Hoắc Trị liệt dương

Dâm Dương Hoắc còn có các tên gọi khác là Cương tiền  Dương hoắc (Tứ Xuyên trung Dược Chí), Ngưu giác hoa, Đồng ty thảo (Quán Châu Dân Gian Phương Dược Tập), Tam thoa cốt, Tam thoa phong, Quế ngư phong, Phế kinh thảo, Tức ngư phong (Hồ Nam Dược Vật Chí), Dương giác phong, Tam giác liên (Toàn Quốc Trung Thảo Dược Hối Biên), Kê trảo liên (Trung Thảo Dược – Nam Dược).

Hình ảnh Dâm Dương Hoắc
Hình ảnh Dâm Dương Hoắc

Tên khoa học: Epimedium macranthun Mooren et Decne.

Họ khoa học: Thuộc họ Hoàng Liên Gai (Berbridaceae).

Tên gọi: Một thứ lá dê hay ăn để tăng dâm tính, vì vậy được gọi là Dâm Dương Hoắc.

Mô tả: Cây thảo, cao khoảng 0.5 – 0.8m có hoa màu trắng, có cuống dài. Cây này có nhiều loài khác nhau đều được dùng làm thuốc.

Hình ảnh hoa Dâm Dương Hoắc
Hình ảnh hoa Dâm Dương Hoắc

+ Dâm Dương hoắc lá to (Epimedium macranthum Morr et Decne): cây dài khoảng 40cm, thân nhỏ, trong rỗng, lá mọc trên ngọn cây. Phần nhiều mỗi cây có 3 cành, mỗi cành mọc 3 lá. Lá hình tim, dạng trứng, dài 12cm, rộng 10cm, đầu nhọn, gốc lá hình tim, m  p lá có răng cưa nhỏ nhọn như gai, mặt lá mầu xanh vàng nhẵn, mặt dưới mầu xanh xám, gân chính và gân nhỏ đều nổi hằn lên. Lá mỏng như giấy mà có tính co gĩan. Có mùi tanh, vị đắng.

+ Dâm Dương Hoắc Lá Hình Tim (Epimedium brevicornu Maxim): Lá hình tim tròn, dài khoảng 5cm, rộng 6cm, đầu hơi nhọn. Phần còn lại giống như loại lá to.

Hình ảnh hoa và lá cây Dâm Dương Hoắc
Hình ảnh hoa và lá cây Dâm Dương Hoắc

+ Dâm Dương Hoắc Lá Mác (Epimedium sagittum (Sieb et Zucc.) Maxim): Lá hình trứng dai, dạng müi tên, dài khoảng 14cm, rộng 5cm, đầu lá hơi nhọn như gai, gốc lá hình tên. Phần còn lại giống như loại lá to.

Thu hái: Chọn rễ lá hàng năm vào mùa hè (tháng 5) hoặc mùa thu. Cắt lấy thân lá, bỏ tạp chất, phơi khô.

Phần dùng làm thuốc: Dùng lá, rễ. Lá màu lục tro hoặc lục vàng, cứng dòn là tốt, loài ẩm mốc, đen, nát vụn là xấu.

Bào chế: 

+ Dâm Dương Hoắc: Lấy kéo cắt hết gai chung quanh biên lá, cắt nhỏ như sợi tơ to, rây sạch mảnh vụn là dùng được.

+ Chích Dâm dương hoắc: Dùng rễ và lá, cắt hết gai chung quanh rồi dùng mỡ dê, đun cho chảy ra, gạn sạch cặn, cho Dâm dương hoắc vào, sao qua cho mỡ hút hết vào lá, lấy ra ngay, để nguội là được [Cứ 50kg lá dùng 12,5kg mỡ Dê] (Lôi Công Bào Chế).

+ Rửa sạch, xắt nhỏ, phơi khô, sao qua. Có thể tẩm qua rượu rồi sao qua càng tốt.

Bảo quản:

Đậy kín để nơi khô ráo, tránh ẩm và làm vụn nát.

Thành phần hóa học:

+ Icariin, Benzene, Sterois, Tanin, Palmitic acid, Linoleic acid, Oleic acid, Vitamin A (Trung Dược Học).

+ Ceryl alcohol, Triacontane, Phytosterol, Oleic acid, Linoleic acid, Palmiticacid (Toàn Quốc Trung Thảo Dược Hối Biên, q Thượng, q 1, Bắc Kinh 1975: 729).

+ Icariin, Icarisid (Dương Xuân Hân, Trung Thảo Dược 1980, 11 (10): 444).

+ Quercetin, Quercetin-3-O-b-D, Quercetin-3-O-b-D-glucoside (Dịch Dương Hoa, Y Học Thông Báo 1986, 21 (7): 436).

+ Icaritin-3-O-a-rhamnoside, Anhydroicaritin-3-O-a-rhamnoside (Mizuno M et al. Phytochemistry 1987, 26 (3): 861).

+ Sagittatoside, Epimedin A, B, C (Mizuno M et al. Phytochemistry 1988, 27 (11): 3641).

+ Sagittatin A, B (Yoshitoru O, et al. Planta Med. 1989, 55 (3): 309).

+ Dihydrodehydrodiconiferylalcohoh, Olivil, Syringaresinol-O-b-D- glucopyranoside, Symplocosigenin-O-b-D-glucopyranoside, Phenethyl glucoside, Blumenol C glucoside (Hiroyuki M, et al. Phytochemistry 1991,  30 (6): 2025).

Tác dụng dược lý:

+ Tác dụng như kích thích tố nam: Cho uống cao Dâm dương hoắc thấy có kích thích xuất tinh [lá và rễ có tác dụng mạnh hơn thân cây+ (Trung Dược Học).

+ Có tác dụng hạ Lipid huyết và đường huyết (Trung Dược Học).

+ Tác dụng hạ áp: Nước sắc Dâm dương hoắc làm hạ huyết áp ở thỏ và chuột có huyết áp cao do thận (Trung Dược Học).

+ Có tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể và tác dụng song phương điều tiết (Trung Dược Học).

+ Giảm ho, hóa đờm, bình suyễn và an thần rõ rệt (Trung Dược Học).

+ Kháng khuẩn, kháng viêm, ức chế tụ cầu trắng, tụ cầu vàng, phế cầu khuẩn. Dung dịch 1% có tác dụng ức chế trực khuẩn lao. Cho thỏ uống thuốc với nồng độ 15mg/kg cân nặng, thấy thuốc có tác dụng kháng histamin (Trung Dược Học).

+ Tác dụng hạ áp, tăng lưu lượng máu của động mạch vành, dãn mạch ngoại vi, tăng lưu lượng máu đầu chi, cải thiện vi tuần hoàn, làm dãn mạch máu não, tăng lưu lượng máu ở não (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Dùng lượng ít thuốc có tác dụng lợi tiểu, lượng nhiều chống lợi tiểu (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Tính vị:

+ Vị cay, tính hàn (Bản Kinh).

+ Vị ngọt tính bình (Dược Tính Luận).

+ Vị hơi cay, tính hơi ấm (Trấn Nam Bản Thảo).

+ Vị cay, ngọt, tính ấm (Trung Dược Học).

Tác dụng:

. Lợi tiểu tiện, ích khí lực, cường chí (Bản Kinh).

. Kiện cân cốt, tiêu loa lịch (Danh Y Biệt Lục).

. Bổ yêu tất (bổ lưng, gối), cường tâm lực (làm mạnh tim) (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

. Bổ Thận hư, tráng dương (Y Học Nhập Môn).

. Bổ thận, tráng dương, khứ phong hàn thấp, bổ âm dương (Trung Dược Học).

. Bổ Thận, tráng dương, khứ phong, trừ thấp (Trung Dược Đại Từ Điển).

Chủ trị: 

+ Trị âm nuy tuyệt thương, trong âm hành đau (kinh trung thống) (Bản Kinh.

+ Trị loa lịch, xích ung, hạ bộ lở loét (Biệt Lục).

+ Trị lãnh phong, lao khí, nam giới tuyệt dương bất khởi, nữ tử tuyệt âm vô tử, gân cơ co rút, tay chân tê, người lớn tuổi bị choáng váng, trung niên hay bị quên (Nhật Hoa Tử Bản Thảo.

+ Trị thiên phong (liệt nửa người), tay chân tê bại, tay chân không có cảm giác (Y Học Nhập Môn).

+ Trị liệt dương, tiểu buốt, gân cơ co rút, liệt nửa người, lưng gối không có sức, phong thấp đau nhức, tay chân tê dại (Trung Dược Đại Từ Điển).

Liều lượng: Uống 4-12g. có thể ngâm rượu, nấu thành cao hoặc làm thành hoàn. Bên ngoài có thể dùng sắc lên lấy nước rửa.

Kiêng ky:

+ Tướng hỏa dễ động, dương vật dễ cương, di mộng tinh, tiểu đỏ, miệng khô, mất ngủ, sung huyết não: cấm dùng (Trung Dược Học).

+ Âm hư, tướng hỏa động: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Thự dự làm sứ cho nó (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

+ Tử chi làm sứ cho nó, được rượu càng tốt (Bản Thảo Kinh Sơ).

+ Thuốc đối với một số bệnh nhân có thể gây tác dụng phụ như váng đầu, nôn mửa, miệng khô, chảy máu müi (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị phong đau nhức, đau không nhất định: Tiên linh tz, Uy linh tiên, Xuyên khung, Quế tâm, Thương nhĩ tử đều 40g. Tán nhuyễn. Mỗi lần uống 4g với rượu ấm (Tiên Linh Tz Tán – Thánh Huệ Phương).

+ Trị phong gây đau nhức, đi lại khó khăn: Tiên linh tz, Gia tử căn đều 2 cân, Đậu đen 2 thăng. Nấu với 3 dấu nước còn 1 đấu, bỏ bã, sắc còn 5 thăng, uống (Tiên Linh Tz Tiễn – Thánh Huệ Phương).

+ Trị mờ mắt sinh màng: Dâm dương hoắc, Sinh vương qua (loại Qua lâu nhỏ có màu hồng) 2 vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 4g với nước tràn, ngày 3 lần (Thánh Tế Tổng Lục).

+ Trị răng đau: Tiên linh tz, nhiều ít tùy dùng, sắc lấy nước ngậm (Cố Nha Tán – Kz Hiệu Lương Phương).

+ Trị mắt thanh manh, sau khi bệnh, chỉ nhìn được gần: Dâm dương hoắc 40g, Đạm đậu xị 100 hạt, sắc với 1 chén rưỡi nước còn một chén (Bách Nhất Tuyển Phương).

+ Trị trẻ nhỏ bị quáng gà: Dâm dương hoắc, Văn cương nga, mỗi thứ 20g, chích Cam thảo, Xạ can mỗi thứ 10g, tán bột. Gan dê 1 cái, rạch thành nhiều rãnh, mỗi lần lấy 8g thuốc nhét vào, buộc lại, lấy Đậu đen 1 ch  n,  nấu ra nước 1 chén, rồi sắc, chia làm 2 lần ăn, và uống hết nước (Phổ Tế Phương).

+ Trị đậu sởi nhập vào mắt: Dâm dương hoắc, Uy linh tiên, 2 vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 2g với nước cơm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị ho do tam tiêu, đầy bụng, không ăn được, khí nghịch: dùng Dâm dương hoắc, Ngü vị tử. 2 vị bằng nhau, tán bột, luyện viên với mật to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước gừng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Tri liệt dương, bán thân bất toại: Dâm dương hoắc 1 cân, rượu ngon 10 cân. Ngâm 1 tháng. Mỗi lần uống 20ml, ngày 2 lần (Dâm Dương Hoắc Tửu – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Tri liệt dương: Dâm dương hoắc 40g, Tiên mao 20g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 

+ Trị liệt dương tiểu nhiều lần: Dâm dương hoắc 20g, Thục địa 40g, Cửu thái tử 20g, Lộc giác sương 20g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 

+ Trị đau nhức khớp do phong thấp hoặc hàn thấp, tay chân co quắp, tê dại: Tiên linh tz 20g,  Uy linh tiên 12g, Thương nhĩ tử, Quế chi, Xuyên khung mỗi thứ 8g. Sắc uống (Tiên Linh Tz Tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị thận hư, dương nuy (bao gồm liệt dương, di tinh, tảo tiết), phụ nữ vô sinh, có thể chọn các bài sau:

– Dâm dương hoắc 40g, ngâm vào 500ml rượu gạo hoặc nếp, 20 ngày sau đem ra uống mỗi lần 10-20ml, ngày 2-3 lần trước bữa ăn. Hoặc dùng ruợu cồn Dâm dương hoắc 20% (tức Dâm dương hoắc ngâm cồn), ngày uống 3 lần, mỗi lần 5ml trước bữa ăn.

– Dịch tiêm bắp mỗi lần 1 ống (2ml), ngày hai lần, trị trẻ nhỏ bị bại liệt thời kz cấp có kết quả. Đối với thời kz di chứng kết hợp thủy châm vào huyệt có kết quả nhất định (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị cao huyết áp: chỉ định chủ yếu đối với thể âm dương đều hư: dùng bài Nhị Tiên Thang: Tiên mao 16g, Tiên linh tz 16g, Đương qui 12g, Ba kích 12g, Hoàng bá 12g, Tri mẫu 12g, sắc uống. Bài thuốc dùng tốt đối với huyết áp cao, thời kz tiền mãn kinh và kết quả theo dõi lâm sàng nhận thấy kết quả lâu dài của thuốc là tốt (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị bệnh động mạch vành: Uống viên Dâm dương hoắc mỗi lần 4-6 viên (mỗi viên tương đương với thuốc sống 2,7g), ngày uống hai lần, 1 tháng là một liệu trình, theo dõi I03 ca, đối với cơn đau thắt ngực và các triệu chứng khác đều có kết quả, thuốc có tác dụng an thần (Theo báo cáo của Tổ phòng trị bệnh mạch vành của Y viện Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc, đăng trong Tân Y Dược Học Tạp Chí 1975, 12: 26).

+ Trị viêm Phế quản mạn tính: Tác giả cho uống toàn Dâm dưong hoắc và theo dõi 1.066 ca, có kết quả chung, tỷ lệ 74,6%, riêng kết quả giảm ho 86,8%, khu đàm 87,9%, bình suyễn 73,8%. Dùng càng lâu kết quả càng tốt (Hồ Bắc Vệ Sinh Tạp Chí 1972, 7: 15).

+ Trị suy nhược thần kinh: Lý Hải Vượng và cộng sự đã dùng 3 loại thuốc Dâm dương hoắc theo cách chế khác nhau, trị 288 ca, chia làm 3 tổ: tổ 1 có 138 ca, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4 viên (mỗi viên tương đương 2,8g thuốc sống), tổ II có 61 ca, ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 – 4 viên (mỗi viên tương đương 3g thuốc sống), tổ III có 29 ca, mỗi lần uống 20mg, ngày 3 lần (20mg thuốc tương đương với 10g thuốc sống). Kết quả theo từng tổ là 89,85%, 93,44%, 89,69%, kết quả tương đối ổn định (Trung Y Tạp Chí 1982, 11: 70).

+ Trị viêm cơ tim do virút: Mỗi lần uống viên cao Dâm dương hoắc 7-10 viên (tương đương thuốc sống 2,7g), ngày 3 lần, liên tục trong 7 tháng, đồng thời dùng Vitamin C 3g cho vào 10% Gluco 500ml, tiêm truyền tĩnh mạch hoặc cho vào 10% Gluco 30ml, tiêm tĩnh mạch chậm, 15 lần một liệu trình, dùng liên tục 3 liệu trình. Theo dõi 36 ca, kết quả tốt 69,44% (Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1984, 9: 523).

+ Trị chứng giảm bạch cầu: Dùng lá Dâm dương hoắc chế thành dạng thuốc trà bột pha uống, mỗi bao tương đương thuốc sống 15g. Tuần đầu uống 3 bao\ngày, tuần thứ hai 2 bao\ngày. Liệu trình 30 – 45 ngày, trong thời gian điều trị, không dùng các thuốc tăng bạch cầu và vitamin, trong số 22 ca có 14 ca uống thuốc đúng yêu cầu thì khỏi trước mắt có 3 ca kết quả rõ rệt, 4 ca có kết quả, 4 ca không kết quả (Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1985, 12: 719).

+ Trị liệt dương: Dâm dương hoắc 9g, Thổ đinh quế 24g, Hoàng hoa viễn chí (tươi) 30g, Kim anh tử tươi 60g, Sắc uống (Phúc Kiến Dược Vật Chí).

Tham khảo:

. Đàn ông tuyệt dương, đàn bà tuyện âm đều không con. Chứng hay quên ở người già. Tất cả các loại gân cơ co rút, uống Dâm dương hoắc đều bổ lưng gối, cường tâm lực (Nhật Hoa Chư Gia Bản Thảo).

. Dâm dương hoắc có vi ngọt, mùi thơm, tính ấm không lạnh, hay ích tinh khí là thuốc vào 2 kinh thủ Túc dương minh, những người chân dương bất túc nên uống (Bản Thảo Cương Mục).

. Dâm dương hoắc khí vị ngọt ấm hay bổ hỏa trợ dương lại hay ích tinh khí nên trừ được phong, tan được lạnh. Khi dùng, bỏ rìa lá, sao với mỡ dê để dùng (Bản Thảo Cầu Chân).

+ “Có người uống Dâm dương hoắc mà chẳng sinh con là vì sao?

– Vị  này không phải là thuốc bổ chân nguyên, nó chỉ trị cho những người dương hư âm bại, kích thích tình dục, những người dục vọng quá mạnh, giao hợp không điều độ làm cho hư, tinh khí không đầy đủ nên không sinh được con cái là lẽ tất nhiên, chỉ những người dương nuy âm bại, tạm dùng cho nó mạnh lên, vi thế cổ nhân nói là “uống Dâm dương hoắc lâu ngày sẽ không có con” (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Dâm dương hoắc là loài cây thảo thuộc dương, có vi ngọt, tính ấm, ích dương, khí cay thì chạy mà có thể bổ vì thế dùng với Bạch tật lê, Cam câu kỷ, Nhục thung dung, Ngü vị tử, Ngưu tất, Sơn thù du là những thuốc bổ dương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

. ‘Ty Thuần Tửu Ẩm” là rượu có ích cho đàn ông, mạnh dương vật, mạnh lưng gối, trị được bán thân bất toại: dùng 1 cân Dâm dương hoắc ngâm với 7 cân rượu, đừng uống qúa say, kiêng gần đàn bà (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Là thuốc trọng yếu ôn bổ mệnh môn, có tác dụng cường dương, ích khí, tính ôn, không hàn, có thể ích tinh khí, người chân dương bất túc dùng rất hợp (Thực Dụng Trung Y Học).

Bài viết được trích từ:  Đông Y Dược bởi ĐẠI HỌC Y KHOA HÀ NỘI.

Tác dụng của râu bắp trong y học

Từ nhiều thế kỷ nay, râu ngô đã được sử dụng như một phương thuốc dân gian. Nó chứa vitamin K và nhiều chất dinh dưỡng khác.
Chúng ta có thể ăn râu ngô trực tiếp hoặc cũng có thể đun sôi râu ngô để lấy nước, sau đó rắc một vài giọt nước cốt chanh là có thể uống được luôn.
Tuy rất tốt nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng được râu ngô. Theo khuyến cáo của bác sĩ, phụ nữ mang thai, trẻ em và những người đang mắc bất kỳ căn bệnh nào cũng nên sử dụng thảo dược này.

rau-bap-chua-benh-gu
rau-bap-chua-benh

Phân tích công dụng của Râu bắp theo tây y  :

Tên khoa học Zea mays L., tên khác là bắp. Râu bắp chứa chất béo, tinh dầu, chất keo. chất nhựa, glucoside đắng, saponin, cryptoxanthin, Vit. C, K, sitosterol, stigmasterol, acid hữu cơ, anthocyan. Có tác dụng lợi tiểu, tăng thải trừ clorid, tăng tiết mật, làm giảm lượng bilirubin và tăng prothrombin trong máu. Râu ngô trong dạng chế phẩm ủ lên men có tác dụng hạ đường huyết.

Theo đông y:

Râu bắp và ruột bấc trong thân cây ngô có vị ngọt, tính bình, vào 2 kinh thận và bàng quang trị đái vàng rắt buốt, bí tiểu, viêm tiết niệu, tiểu ra máu, xuất huyết nội tạng, sạn trong gan, mật, thận, sạn niệu, bàng quang, phù thủng, làm hạ áp huyết, làm thông mật trong điều trị gan mật, sỏi mật, vàng da.

Tác dụng chữa bệnh của râu bắp theo đông y:

1-Chữa cao áp huyết :

Uống nước luộc bắp mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần 200cc cho đến khi áp huyết trở lại bình thường và ổn định.

2-Chữa cao áp huyết, viêm gan mật, bí tiểu:

Dùng 30g râu bắp với 300cc nước sắc cạn còn 100cc, uống 1 lần mỗi ngày

3-Chữa nhiễm khuẩn đường niệu, sưng phù, bệnh thận, nội tạng xuất huyết :

Đã có một bệnh nhân nằm điều trị trong bệnh viện, chân sưng phù, đại tiểu tiện ra huyết do xuất huyết nội tạng liên tục hơn 1 tuần lễ, nhưng tìm không ra nguyên nhân, tây y tiếp tục xét nghiệm tìm theo hướng nghi ngờ ung thư. Tôi đề nghị mua 2 pounds râu bắp khô ở tiệm thuốc bắc, mỗi lần sắc 0,5 pound với 2 lít nước cạn còn 300cc, uống vào sáng và chiều trong 2 ngày. Chứng xuất huyết nội tạng, tiêu tiểu ra máu và chân sưng phù đã khỏi, bệnh nhân được xuất viện.

4-Chữa tiểu đường :

  • Dùng hạt bắp nhúng nước ủ cho mọc mầm. Dùng mầm khô sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 20-30g uống vớI nước canh rau khoai lang.
  • Ăn chè bắp non nấu vớu củ mài (hoài sơn).
  • Ăn canh rau khoai lang đỏ mỗi ngày.

 

Thực hư chuyện lá vối chữa khỏi bệnh gút

Câu chuyện lá vối chữa trị bệnh gút có khác gì với câu chuyện Cây nở ngày đất trị bệnh gút đã gây sốt trong những ngày qua.

Thực hư về bài thuốc chữa bệnh gút có dễ dàng giống như dân gian đồn thổi

1. Mô tả về lá vối

Hình ảnh cây vối
Hình ảnh cây vối

Cây vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus (Roxb). Merr et Perry (Eugenia operulata Roxb., Syzygium nervosum DC.). Đây là loại cây nhỡ cao từ 5 – 6m, có khi hơn, cành non tròn hay hơi hình 4 cạnh, nhẵn. Lá có cuống dài, dai, cứng, hình trứng rộng, dài 8 – 20cm, rộng 1 – 1,5cm.

Hoa gắn như không cuống, nhỏ, màu lục trắng, nhạt, hợp thành cụm hoa hình tháp tỏa ra ở kẽ những lá đã rụng.  Quả hình cầu, hay hơi hình trứng, đường kính 7 – 12mm, xù xì.

Cây vối là một cây cỡ vừa, cao 5 – 6m, có khi hơn. Cành cây tròn hay hơi hình 4 cạnh, nhẵn. Cuống lá dài 1- 1,5cm. Phiến lá dai, cứng, bầu dục hay trái xoan ngược, hình trứng rộng, giảm nhọn ở gốc, có mũi nhọn ngắn, hai mặt cùng màu nhạt có đốm màu nâu, dài 8

– 9cm, rộng 4 – 5cm. Hoa gần như không cuống, màu lục nhạt, trắng. Cụm hoa hình tháp, trải ra ở kẽ các lá đã rụng. Quả hình cầu hay hình trứng, đường kính 7 – 12 mm, nháp, có dịch. Toàn lá, cành non và nụ có mùi thơm dễ chịu. Cây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi. Cần phân biệt cây này với vối rừng, mọc hoang ở vùng núi. Nó cũng thuộc họ sim và được Đông y dùng vỏ cây làm thuốc, gọi là hậu phác. Vị thuốc hậu phác được dùng chữa đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa….

Toàn cây có mùi thơm rất dễ chịu.

Vối là cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trên khắp nước ta, đồng thời cũng xuất hiện ở nhiều địa phương các nước nhiệt đới châu Á, Trung Quốc.

2. Dược tính

Theo cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS Đỗ Tất Lợi, lá vối chủ yếu được dùng trong dân gian để nấu nước uống.

Khi dùng để nấu nước, người ta hái lá phơi khô, có người ủ rồi mới phơi như sau: Thái nhỏ, rửa sạch nhựa, cho vào thùng hay thúng ủ cho đến khi đen đều thì lấu ra rửa sạch, phơi khô.

Lá vối ủ uống nước thơm ngon hơn. Nụ vối cũng phơi khô để pha trà và làm thuốc. Trong lá vối có rất ít tanin, vết ancaloit và 4% tinh dầu mùi thơm dễ chịu

Năm 1968, Nguyễn Đức Minh, phòng Đông y thực nghiệm Viện nghiên cứu Đông y đã tiến hành nghiên cứu thăm dò tính chất kháng sinh của lá và nụ vối đối với 1 số vi trùng Gram+ và Gram- đã đi đến kết luận lá vối và nụ vối có tác dụng kháng sinh. Vào mùa đông, kháng sinh tập trung nhiều nhất ở lá. Lá vối và các bộ phận của vối hoàn toàn không có độc đối với cơ thể người.

3. Lá vối trị bệnh gút:

Bài thuốc trị bệnh gút bằng lá vối không quá xa lạ. Trong nhân dân vẫn mách nhau cách dùng lá vối đun làm nước uống hàng ngày nhằm ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh gút.

Nhiều người còn cho rằng chỉ cần dùng cách đơn giản này có thể chữa khỏi được căn bệnh “nhà giàu” này mà không cần phải uống thuốc.

Theo lương y đa khoa Bùi Hồng Minh, Chủ tịch Hội Đông y quận Ba Đình, Hà Nội, lá và nụ vối có công dụng giúp tiêu hóa thức ăn, đặc biệt là thức ăn có nhiều dầu mỡ đồng thời có tác dụng giảm béo, lợi tiểu tiêu độc.

Nếu dùng thường xuyên lá và nụ vối có tác dụng hỗ trợ tiêu tích, làm tan các chất uric đào thải ra ngoài nên góp phần trong phòng ngừa, hỗ trợ điều trị bệnh gout.

Tuy nhiên, theo lương y Hồng Minh, việc dùng lá và nụ vối nấu nước uống hàng ngày chỉ hỗ trợ được phần nào trong việc đào thải axit uric, giúp bệnh tiến triển theo chiều hướng tích cực nhưng không chữa khỏi bệnh hoàn toàn.

Người bệnh nên có 1 chế độ ăn uống luyện tập và dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ song song với việc dùng nước lá vối hàng ngày.

Lưu ý: Mặc dù nước lá vối ủ sẽ thơm ngon hơn nhưng khi dùng làm thuốc nên dùng lá vối tươi. Người gầy yếu, sức khỏe suy nhược thì không nên dùng bài thuốc này.

Nguồn: Viện Y học cổ truyền

12 Tác dụng của cây nha đam đối với sức khỏe

Nha Đam hay còn gọi là cây Lô Hội  là cây sống dai, có khi không có thân, có khi thân cao lên hóa thành gỗ, ngắn, to, thô. Lá mọng nước, tiết diện 3 cạnh, có gai ở mép lá, mặt lá có đốm trắng, lá không cuống, đầu nhọn sắc, dài 20-30cm, rộng 3-5cm, dày 1-1,5cm. Lá mọc thành cụm như hoa thị ở gốc. Hoa có cán dài đến 1m, màu vàng đỏ, hợp thành chùm dài. Quả nang hình trứng thuôn, lúc đầu màu xanh sau nâu và dai, có 3 ô, mỗi ô đựng nhiều hạt. Nha Đam ở miền Bắc Việt Nam được trồng làm cảnh là Aloe maculata Forsk. Cây ra hoa vào mùa Thu.

Tác dụng của cây nha đam với sức khỏe images by: tim thuoc nhanh
Tác dụng của cây nha đam với sức khỏe images by: tim thuoc nhanh

+Tác dụng đối với Vị trường: Aloin là chất tẩy xổ mạnh và mạnh hơn so với Đại hoàng. Aloin tác động trên kết trường. Nha Đam dùng thụt Đại trường có tác dụng cüng như uống

+ Tác dụng tẩy xổ: Aloin là chất tẩy xổ mạnh, tác dụng kích thích đại trường gây xổ thường kèm theo đau bụng, hố chậu sung huyết. Nghiêm trọng có thể gây viêm

Thận. Nha Đam dùng thụt Đại trường có tác dụng cüng như uống

+ Nước ngâm kiệt Nha Đam có tác dụng ức chế với mức độ khác nhau đối với nấm gây bệnh ngoài da.

+ Nha Đam  còn có tác dụng kháng hoạt tính ung thư

+ Tác dụng chữa vết thương và vết phỏng: nước sắc Nha Đam 10% bôi trên thỏ  và chuột thấy rút ngắn được thời gian điều trị. Trong những năm gần đây, nước sắc Lô hội dùng điều trị phỏng có kết quả tốt, 1 số trường hợp cho thấy Nha Đam kháng được với Pseudomonas aeruginosa.

+Tác dụng chống khối u: Nha Đam chiết xuất bằng alcohol có tác dụng ức chế sự phát triển của 1 số khối u và xơ gan cổ trướng (Trung Dược Học).

+Liều nhỏ Nha Đam giúp kích thích tiêu hóa (Liều thường dùng: 0,5-1g), vì nó kích thích nhẹ niêm mạc ruột và không cho cặn bã ở lâu trong ruột. Liều cao, nó là vị thuốc tẩy mạnh nhưng tác dụng chậm, gây sự sung huyết ở các cơ quan bụng, nhất là ở ruột gìa. Tùy theo liều dùng, có thể gây độ tẩy cần thiết. Có tác dụng sau 10-15 giờ, phân mềm nhão, không lỏng. Có khi hơi đau bụng

+Nha Đamliều cao 200-500mg nhựa khô (3-5 lá tươi) có tác dụng xỏ mạnh. Công năng xổ này là do các chất có nhân Anthraquinon của Nha Đam có tính kích ứng

đường ruột, gây ra đau bụng quặn nên không tốt bằng các loại Muồng (Cassia) hoặc Tả diệp.

+Tác dụng kháng sinh: các nghiên cứu mới nhất chứng minh gel Nha Đam tươi có tính sát khuẩn, gây tê (làm giảm đau sau khi bôi), tăng vi tuần hoàn vì vậy giúp mau lành vết thương khi bôi lên.

+Các Anthraquinon của các loại Aloe kết hợp được với các ion Calcium trong đường tiểu thành hợp chất tan được để tống ra ngoài theo nước tiểu

+Aloe vera gel có tác dụng làm săn da, kháng sinh, làm đông kết dịch rỉ

Tác dụng bổ dưỡng của rau muống

Rau muống là loại rau rất phổ biến ở Việt Nam, Rau muống có rất nhiều tác dụng cả về món ăn lẫn về dinh dưỡng, ngoài ra rau muống còn hỗ trợ trong việc chữa bệnh và phòng ngừa các bệnh mạn tính

Thông tin dinh dưỡng

Thành phần các chất dinh dưỡng trong rau muống rất đa dạng và phong phú. Trong rau muống có tất cả 8 acid amin “không thay thế được”, tức là những amin cơ thể không thể tự tổng hợp mà phải hấp thụ từ các loại thức ăn. Trong 100g rau muống có: 1,9-3,2g protein; 1,9-3,5 caroten (gấp 8 lần trong cà chua); 7-28mg vitamin C (cũng nhiều hơn trong cà chua); 0,1mg vitamin B1; 0,09mg vitamin B2; khoảng 0,7mg vitamin PP; 100mg canxi, 37mg phôtpho, 1,4mg sắt… Chất xơ trong rau muống có tác dụng tăng cường nhu động ruột tăng lương phân bài tiết ra ngoài. Chất lignin trong xơ rau muống có tác dụng nâng cao chức năng của các đại thực bào, do đó có thể phòng ngừa được ung thư trực tràng.
Vitamin A 6.300 IU Vitamin C 55 mg
Canxi 77 mg Sắt 1,7 mg
Vitamin D 0 IU Vitamin B6 0,1 mg
Vitamin B12 0 µg Magiê 71 mg
Lipid 0,2 g
Cholesterol 0 mg
Natri 113 mg
Kali 312 mg
Cacbohydrat 3,1 g
Chất xơ2,1 g
Protein 2,6 g
TÁC DỤNG CHỮA BỆNH Theo YHCT: rau muống có tính chất mát, vị ngọt, nhạt. Có tác dụng: giải độc, sinh da thịt. Ắn nhiều thì da thịt nở nang, đại tiểu tiện thông lợi, khỏi chứng táo bón và đái dắt. Cụ thể, có thể dùng rau muống để chữa trị một số chứng bệnh như sau:
– Chữa ho ra máu: Rau muống và củ cải tươi, hai thứ bằng nhau, giã nát vắt lấy 1 bát nước cốt, thêm chút mật ong vào uống.
– Chữa chảy máu cam: Rau muống là một vị thuốc chỉ huyết rất hiệu nghiệm. Nếu mũi bị ra máu liên tục (chảy máu cam), có thể lấy cọng rau muống giã nát, thêm chút đường hoặc mật ong, hòa thêm nước sôi vào uống, một lát sau máu cam sẽ cầm lại.
– Chữa đại tiện hoặc tiểu tiện ra máu: Lấy lá rau muống hoặc cọng non giã nát rồi trộn với mật ong uống dần.
– Chữa táo bón: Rau muống có tác dụng nhuận tràng, trong một số trường hợp, uống nước luộc rau muống có thể chữa khỏi chứng táo bón.
– Trị bệnh đái tháo đường: Các nghiên cứu gần đây cho biết, trong loại rau muống tía có chứa một hợp chất có tác dụng tương tự như insulin, cho nên đây là món ăn rất tốt đối với người bị bệnh tiểu đường.
Có thể nấu món cháo như sau:
Lấy 100g rau muống rửa sạch và thái nhỏ; 100g củ năn (củ mã thầy) gọt bỏ vỏ và rửa sạch; thịt lợn nạc 100g băm nhỏ.
Dùng 100g gạo nấu thành cháo, khi cháo chín thì cho thịt, rau muống và củ năn vào nấu tiếp đến khi thịt chín là được. Khi ăn cho thêm muối và các thứ gia vị như hành, gừng…
Thứ cháo này là món ăn rất tốt đối với người bị đái tháo đường. Ngoài ra, nó còn có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, giải độc và cầm máu. Nếu không có điều kiện để nấu loại cháo trên, người mắc bệnh tiểu đường có thể làm như sau: lấy cọng rau muống 100g, râu ngô 50g, đem sắc lên, uống thay nước hàng ngày, cũng có tác dụng hỗ trợ nhất định.
– Viêm lưỡi, viêm khoang miệng, viêm môi do thiếu vitamin B2: Rau muống tươi 100g, hành tươi 50g, hai thứ đem nấu thành canh ăn với cơm hàng ngày. Trường hợp chỉ bị viêm nhẹ, sau 3-5 ngày là khỏi (kinh nghiệm của các thầy thuốc ở Thượng Hải, TQ, theo “Quả sơ thực liệu”).
– Sinh da thịt: Khi bị mụn nhọt lở loét, miệng lõm sâu, ăn rau muống có thể làm cho mụn chóng lành và mau sinh đầy da thịt.
Giải độc
+ Ắn phải nấm độc, ngộ độc lá ngón (đoạn trường thảo), trúng độc thủy ngân: trong lúc chờ đưa đến bệnh viện, tạm thời có thể lấy rau muống tươi (khoảng 1kg), giã nát vắt lấy nước, uống một lượng lớn sẽ có tác dụng giải độc nhất định. Đối với trường hợp thần kinh rối loạn, cuồng táo tác dụng tương đối tốt.
Đối với trường hợp bị hôn mê thì tác dụng kém hơn. Nếu sắc 120g cam thảo, 30g kim ngân hoa, chắt lấy nước, hòa với nước cốt rau muống mà uống thì tác dụng mạnh hơn (kinh nghiệm dân gian tỉnh Phúc Kiến, TQ).
+ Nếu không may bị ngộ độc hoặc say sắn, có thể lấy rau muống giã nát vắt lấy nước, uống nhiều có thể giải độc và khỏi say (kinh nghiệm dân gian VN).
Nguồn: ykhoa.net

6 cách tự chữa trị mụt lẹo hiệu quả

Mụt lẹo xuất hiện nguyên nhân do viêm mí mắt,  tình trạng viêm mạn tính của bờ mi, thường do vi trùng gây ra. Biểu hiện của viêm mí mắt: chắp, lẹo, đỏ mắt tái đi tái lại, khô mắt thứ phát, kích thích mắt mạn tính.

Viêm mí mắt có thể gây những biến chứng: nhiễm trùng giác mạc, lông mi mọc lệch (lông xiêu), quặm (cụp mí) do sẹo (sẹo ở bờ mí mắt làm cho mí mắt xoay vào trong). Có thể điều trị viêm mí mắt bằng cách lau mắt hằng ngày, bôi thuốc mỡ kháng sinh tại chỗ.

Những cái mụn lẹo, chắp mắt bé tí tưởng như đơn giản nhưng có thể khiến đôi mắt kém thẩm mỹ do chữa lẹo không triệt để. Dưới đây là một số điểm cần chú ý nếu muốn trị mụt lẹo mắt tại nhà cũng như làm giảm cảm giác khó chịu.

1. Không trang điểm mắt hoặc soi gương cho đến khi chiếc mụn lẹo ở mí mắt đã lành hẳn.

2. Áp dụng nén ấm cho mắt ngày 3-6 lần/ngày và để giúp chữa lành nhanh hơn những chiếc lẹo mắt. Sự nén ấm này cũng có thể giúp mở ra một lỗ bị chặn để có thể tiêu thoát và bắt đầu chữa bệnh.

Rửa tay sạch sẽ trước khi bạn áp dụng nén ấm cho mắt. Sử dụng một miếng vải sạch hoặc miếng gạc làm ẩm với nước rất ấm. Bạn không nén nhiệt trong lò vi sóng vì nó có thể trở nên quá nóng và có thể tổn thương mí mắt.

Đặt miếng nén trên mắt sau khi bạn đã nhắm mắt cho đến khi miếng nén bắt đầu mát (thường là 5-10 phút). Để tăng tốc độ quá trình chữa bệnh, bạn cũng có thể sử dụng dung dịch muối loãng thay vì nước ấm.

4. Sử dụng thuốc mỡ điều trị lẹo mí mắt. Hãy chắc chắn rằng bất cứ loại thuốc mỡ nào bạn mua mà không cần toa phải là để điều trị cho mắt chứ không phải cho tai để làm giảm sự khó chịu của lẹo mắt.

Nếu bạn muốn chữa trị một chiếc mụn lẹo ở mí mắt không phải tại nhà thì bạn có thể đến gặp bác sĩ. Khi ấy bác sĩ có thể kê một toa thuốc mỡ kháng sinh hoặc thuốc nhỏ mắt cho lẹo mắt của bạn.

Luôn rửa tay trước khi áp dụng thuốc mỡ tra mắt hay thuốc nhỏ mắt. Hãy chắc chắn các thuốc này sạch sẽ và cố gắng không để chạm vào mắt, mí mắt, hoặc bất kỳ bề mặt của lọ thuốc/ tuýp thuốc.

5. Nếu bạn bắt buộc phải tra thuốc mỡ kháng sinh cho mắt thì nên thoa một lớp mỏng trên mụn lẹo ở mí mắt trước khi đi ngủ.

6. Nếu thuốc nhỏ mắt kháng sinh được quy định, áp dụng chúng bằng cách kéo mí dưới của mắt xuống với hai ngón tay để tạo ra một cái túi nhỏ giữa nhãn cầu. Nhỏ thuốc nhỏ mắt và sau đó nhắm mắt hờ trong khoảng 30-60 giây sau khi bạn tra thuốc nhỏ mắt.