Tác dụng của cây cỏ xước

Cây cỏ Xước có tác dụng hoạt huyết, khứ ứ, bố can thận mạnh gân, xương, dùng trị phong thấp, đau lưng, đau nhức xương khớp,đau lưng, đau nhức xương khớp, chân tay co quắp, kinh nguyệt không đều, bế kinh đau bụng, bí tiểu tiện, đái rắt buốt.

Hình ảnh cây cỏ xước
Hình ảnh cây cỏ xước

Giới thiệu chung

Cây Cỏ xước có tên khoa học: Achyranthes aspera L., thuộc chi Achyranthes, họ Amaranthaceae (Rau giền, Dền). Tên thông thường: Cỏ xước, Ngưu tất nam, Nhả khoanh ngù (Tài), Cỏ nhả lìn ngu (Thái), Hà ngù.

Cỏ xước là loại cây thảo, cao gần 1 m, có lông mềm, thân cứng, phình lên ở những mấu. Lá mọc đối, hình trứng, nhẵn hoặc hơi có lông, gốc thuôn, đầu tù, dày 3–12 cm; cuống lá dài. Cụm hoa mọc thành bông đơn ở ngọn thân, dài 20-30 cm, hoa mọc rủ xuống áp sát vào cuống cụm hoa. Quả nang có lá bắc còn lại tạo hình gai nhọn dễ mắc vào sớ vải khi chạm phải; vỏ quả rất mỏng, dính vào hạt; hạt hình trứng dài, dày 1 mm. Mùa hoa quả tháng 7–12. Hình dáng cỏ xước rất gần giống với cây ngưu tất, cũng là loại dược thảo rất hữu dụng ở nhiều nước Trung Quốc, Ấn độ, Nepal,…

Cây cỏ xước đã được sử dụng trong y học cổ truyền nước ta từ lâu, vì những công dụng hữu hiệu trong điều trị đau khớp, nhức đầu, sốt rét, viêm thận, sỏi niệu và trị gan. Đối với phụ nữ, cỏ xước giúp làm giảm rối loạn kinh nguyệt, đau do kinh bế, đau bụng sau sanh. Cây cỏ xước vừa là phương thuốc vừa là một nguyên liệu tốt trong nhiều bài thuốc hiện đang có tên trong danh mục thuốc điều trị của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Viện dược liệu Trung ương.

Cỏ  Xước   là  dược liệu   sử   dụng rễ đã phơi hay sấy khô của cây  Cỏ  Xước (Achyranthes aspera L)có  tác dụng  hoạt huyếtkhứ ứ, bổ  can thận mạnh gân xương. Dùng trị  phong thấp, đau lưng, đau nhức xương khớp, chân tay co quắp, kinh nguyệt không đều, bế kinh đau bụng,  bí tiểu tiện, đái rắt buốt

Bài thuốc trị  bệnh bằng cây Cỏ Xước

– Chữa chứng sổ mũi, sốt: Cỏ xước 30g, đơn buốt 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

– Chữa quai bị:

Lấy  cỏ  xước giã nhỏ chế thành nước súc miệng và uống trong; còn bên ngoài lấy  lượng vừa đủ giã đắp vào nơi  quai bị sưng đau.

– Chống co  giật (kể cả bại liệt, phong thấp teo cơ,  xơ  vữa mạch máu): Rễ  cỏ xước 40 – 60g sắc lấy  nước thuốc uống nhiều lần trong ngày.

– Chữa viêm gan, viêm thận (kể cả viêm bang quang, đái vàng thẫm, đái đỏ, đái ra sỏi): Cỏ xước 15g, cỏ  tháp bút 15g,  mộc thông15g, mã đề (hay hạt lá bông) 15g, sinh địa15g,   rễ cỏ  tranh15g, sắc lấy  nước uống với  bột hoạt thạch 15g, chia ba lần.

Chữa trị viêm cầu thận

(phù thũng, đái đỏ, đái són, viêm gan virus, đái vàng thẫm, da vàng, viêm bang quang, đái ra máu): Rễ  cỏ  xước 30g, rễ cỏ  tranh 15g, mã đề 15g, mộc thông 15g, huyết dụ15g, lá móng tay 15g,   huyền sâm 15g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Chữa các chứng bốc hỏa

(nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, ù tai, tăng huyết áp, rối  loạn tiền đình, khó ngủ, đau nhức dây thần kinh, rút gân, co  giật, táo bón): Rễ  cỏ  xước 30g, hạt muồng sao 20g, sắc uống mỗi  ngày 1 thang chia 3 lần; thuốc có  công hiệu an thần.

Chữa thấp khớp đang sưng:

Rễ  cỏ  xước 16g, nhọ nồi  16g, hy thiêm thảo 16g,  phục linh20g, ngải cứu 12g,  thương nhĩ  tử12g, sao vàng sắc lấy  ba lần nước thuốc, sau trộn chung cô  sắc đặc chia 3 lần uống. Ngày uống 1 thang trong 7 – 10 ngày liền. Hoặc cỏ  xước 40g, hy  thiêm 30g, thổ phục linh  20g, cỏ mực 20g, ngải cứu 12g, quả ké đầu ngựa 12g, sắc lấy  nước thuốc đặc uống trong ngày.

– Viêm đa khớp dạng thấp:

Rễ  cỏ  xước tẩm rượu sao 20g,  độc hoạt12g, tang ký sinh16g, dây đau xương 16g,  tục đoạn12g, đương quy 12g, thục địa 12g, bạch thược 12g, đảng sâm 12g, tần giao 12g, quế chi  8g, xuyên khung 8g, cam thảo 6g, tế tân 6g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, trong 10 ngày.

– Chữa bệnh gút:

Lá lốt  15g, rễ bưởi  bung 15g, rễ cây vòi  voi  15g, tất cả thái mỏng sao vàng, rồi  sắc lấy  nước đặc chia ba lần uống trong ngày. Ngày dùng 1 thang, trong 7 – 10 ngày liền  (chưa có  nhiều thông tin  về bài thuốc này).

– Chữa kinh nguyệt không đều, huyết hư:

Rễ  cỏ  xước 20g, cỏ  cú  (tứ  chế) 16g, ích  mẫu 16g, nghệ xanh 16g, rễ gai (gai lá  làm bánh) 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, uống 10 ngày. Không dùng cho người có  thai.

– Chữa suy thận, phù thũng, nặng chân, vàng da:

Rễ  cỏ  xước sao 30g, mã đề cả cây 30g, cúc bách nhật cả cây 30g, cỏ  mực 30g, sắc ngày uống 1 thang, chia 2 – 3 lần, uống liền  trong 7 – 10 ngày.

– Chữa trị  mỡ  máu cao

(kể cả xơ  vữa động mạch, huyết áp cao, nhức đầu chóng mặt, ù tai, mờ  mắt): Cỏ  xước 16g, hạt muồng sao vàng 12g, xuyên khung 12g, hy  thiêm 12g, nấm mèo 10g, đương quy 16g, cỏ  mực 20g, sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, khi  uống vớt  bã nấm mèo ra ăn, nhai kỹ  chiêu với nước thuốc. Cần uống liên  tục 20 – 30 ngày.

– Hỗ trợ  điều trị bệnh viêm cầu thận

(phù thũng, đái són, đái vàng thẫm, vàng da): Rễ  cây cỏ  xước 25g, rễ cỏ  tranh, mã đề, mộc thông, huyết dụ, lá  móng tay, huyền sâm, mỗi  vị 10g. Sắc với  600ml nước còn 200ml, chia uống 2 lần vào buối sáng và trưa sau các bữa ăn. Mỗi liệu  trình điều trị  10 ngày. Nghỉ  15 ngày lại tiếp tục sử  dụng đơn thuốc này (phải theo chỉ  định của thầy thuốc).Hoặc rễ cỏ  xước sao vàng 30g, mã đề cả cây 20g, cúc bách nhật cả cây 25g, cỏ  mực 20g, sắc ngày uống 1 thang, chia 2 – 3 lần, uống liền  trong 10 ngày.

– Cây  cỏ  xước chữa sổ mũi do  viêm mũi dị ứng:

Rễ  cỏ  xước 30g, lá  diễn, đơn buốt mỗi  vị 20g sắc với  400ml nước còn 100ml. Uống trong ngày, nên uống khi  thuốc còn ấm. Dùng trong 5 ngày.

Chú  ý: Có công dụng giống cây  Ngưu tất được di thực vào nước ta ( Hoài ngưu tất, Ngưu tất sắc).

Cách dùng, liều  lượng

Ngày dùng 6 – 15 g. Dạng thuốc sắc. Kiêng kỵ Phụ nữ  có  thai, ỉa lỏng, người di tinh không dùng.

Nguồn các bài thuốc chữa trị Y Dược Việt Nam

Comments